Hoàng Cầm kể (HH ghi)
5/ Nguyễn Doãn Nhạ:
Sau này về tôi mới biết chuyện tôi bị bắt chắc
chắn là do Tố Hữu, Tố Hữu có công an riêng của ông, chính là công an Hà
Nội, để mà săn sóc những người Nhân Văn Giai Phẩm. Người bắt tôi là là
trưởng phòng an ninh chính trị của Sở Công an Hà Nội, tên là Nguyễn Doãn
Nhạ.
Tôi mới gặp ông Nhạ có một lần vào năm 1974, chưa
giải phóng. Lúc ấy tôi đang uống bia ở Hồ Tây thì có một anh trẻ tuổi,
độ 18, đến bảo “Chú ơi, chú về nhà đi, chú về đi rồi cháu sẽ đến gặp
chú”, cậu ta nói rất nhỏ… Tôi đoán là có chuyện gì rồi, nhưng chả việc
gì phải trốn tránh. Buổi chiều cậu ta đến, nhưng không dám vào nhà mà
kêu tôi ra cửa. Cậu ta có vẻ rất e dè, nói thì thào: “9h sáng mai chú
đến sở công an ở đường Trần Hưng Đạo, chú đến đấy sẽ có người đón chú
vào”.
9h sáng hôm sau tôi đến cổng Sở Công an thì có
người đón, đưa tôi vào cái buồng nho nhỏ có bàn có ghế. Ngồi mấy phút
thì một anh cán bộ chừng 40 tuổi mặt xam xám, mắt hầu như không có lòng
đen, người gầy quắt, mặt thì choắt, cười thì miệng cười rất rộng răng
thì rất trắng nhe ra làm cho tôi thấy hơi rùng mình. Tôi có cảm giác gặp
một bộ mặt của tử thần, mà cái cảm giác đó rất rõ. Anh ta nói với tôi
thế này: “Ít lâu nay anh có truyền bá những bài thơ anh làm, ảnh hưởng
rất nặng đến tư tưởng của thanh niên thủ đô. Cấp trên của chúng tôi rất
lấy làm không hài lòng về việc đó, tôi cho gọi anh đến đây để yêu cầu
anh từ sau Nhân Văn anh có làm những bài thơ gì, chép cho ai, đọc cho ai
nghe, tặng biếu những ai thì anh phải thu hồi về hết và từ nay trở đi
tuyệt đối anh không chép bất cứ một câu nào, bài nào cho bất cứ ai, nếu
anh không chấp hành thì anh phạm vào kỷ luật nặng đấy, để đến lần thứ
hai tôi phải nhắc anh như thế này thì chúng tôi nhắc ở trong tù trong
nhà giam chứ không phải nhắc ở đây. Bây giờ anh viết kiểm điểm, từ sau
Nhân Văn cho đến bây giờ anh sáng tác những cái gì? và những sáng tác ấy
mang tư tưởng gì? Cái đó chúng tôi đã biết cả, những bài thơ của anh nó
lan truyền trong giới thanh niên, sinh viên, học sinh, khá nhiều đấy,
truyền miệng truyền tay nhau toàn những bài thơ mang một nội dung không
lành mạnh, nội dung mang tính chất chống phá chủ nghĩa xã hội”. Tôi nói:
“Tôi có sáng tác một số bài thơ nhưng đấy là những bài thơ về quê hương
cũ, đó là tình cảm riêng của tôi không có gì là chống phá cách mạng cả,
thơ thì có thể hiểu theo nghĩa này cũng được, hiểu sang nghĩa khác cũng
được, chứ tôi không có ý gì sau Nhân Văn, tôi không có ý gì chống lại
đường lối hoặc chính sách của Đảng”. Anh ta bảo: “Đó là anh nói thế
thôi, chứ rõ ràng nếu những bài thơ tốt cho chế độ thì có thể đăng báo
được chứ làm sao mà không đăng được? Dù kỷ luật của anh thế nào đi chăng
nữa, nhưng anh thử gửi những bài thơ tốt đối với chế độ này thì tôi tin
là các báo đăng ngay, đây không có báo nào đăng gì cả, vậy thì tại sao
anh làm cái chuyện lưu truyền trong thanh niên… Cơ quan tôi nhận rất
nhiều báo cáo về những bài thơ ấy ở trong thanh niên, sinh viên, học
sinh, trí thức, cán bộ văn nghệ văn hóa, thế thì tại sao? Có phải là anh
truyền bá đi không, mà truyền bá như thế là truyền bá những tư tưởng
chống đối, anh có nhận như thế là sai không?”. Tôi trả lời: “Tôi có chép
cho một số người, một số bạn, chép một số bài chứ không nhiều, cái đó
có, những bài thơ không có chống đối gì hết, còn ai nghĩ là chống đối
tôi không thể nào biết được. Bây giờ bảo tôi thu hồi thì tôi thu hồi thế
nào đây, nếu như người ta đã thuộc rồi thì tôi làm thế nào mà thu hồi
lại được, vì thơ là một cái gì nếu hợp với người ta thì nó có cánh nó
bay đi nó đậu lại trong bụng dạ người ta thì tôi làm thế nào mà thu
hồi?” – “Có bài nào anh chép cho người ta, cho anh X, anh Y nào đó thì
anh biết để đòi lại chứ, cái đó có thể thu hồi được, còn bài nào người
ta thuộc rồi thì tất nhiên không thể lấy lại được, đấy có phải là cái
tội của anh không? Tại sao những bài thơ người ta thuộc một cách bí mật,
người ta lan truyền nhau một cách lén lút? Đó phải là những bài thơ
chống đối cách mạng, hợp với bọn thanh niên bất mãn, bọn sẵn sàng chống
đối chế độ, hợp với bọn ấy cho nên chúng nó thuộc”. Thế là anh cán bộ
bắt tôi viết kiểm điểm. Tôi viết hai trang, tôi viết sự thật, cũng có
chép tay cho một số người 5, 3 bài thơ trong tập “Về Kinh Bắc” của tôi,
tôi hứa từ nay không chép cho ai nữa, không truyền bá đi nữa. Sau đó thì
tôi về.
Về sau tôi có hỏi một anh ở công an nhưng có tình
thân gia đình tức là anh Bảo Hùng, em chồng bà Tuyết Khanh, anh Bảo
Hùng nói đó là anh Nhạ, trưởng phòng an ninh chính trị. Bấy giờ tôi mới
biết tên anh là anh Nhạ, chứ chưa biết họ, cho đến năm 1982 khi nghe đọc
lệnh bắt và khám nhà ký tên là Nguyễn Doãn Nhạ trưởng phòng an ninh
chính trị Sở công an Hà Nội…
Sau khi giao tập thơ cho Hoàng Hưng thì tôi về,
tôi chả nghĩ ngợi gì cả. Mấy ngày sau, tức ngày 20 tháng 8, buổi sáng
lúc ấy gần 9h vợ tôi đi chợ rồi, cũng chưa có khách đến uống rượu, tôi
vẫn nằm trên gác bắt đầu giở bàn đèn ra; mới hút độ hai điếu tôi thoáng
thấy bóng một anh áo vàng tức là công an đi qua cửa sổ thì tôi vội vàng
đi xuống, thì hóa ra anh cán bộ ở đồn, quen biết, anh ta có vẻ thân mật
nói là chỉ vào thăm bác thế thôi, tôi cũng mời nước, mời thuốc lá, xong
thì anh ta lại đi. Tôi tưởng xong rồi chẳng có chuyện gì lại lên gác,
lại định châm đèn lên để hút thì lập tức thấy bóng áo vàng thêm mấy
người nữa mặc civil. Tôi bắt đầu biết là có chuyện rồi, tôi lại tắt đèn
đi xuống. Vừa xuống thì gặp 3 người công an đến, một anh tên là Phú còn
hai anh kia đi theo có súng ống đầy đủ, có cả mặt công an hộ tịch ở đấy,
có mặt cả đại biểu khu phố. Anh tên là Phú đọc lệnh, đại ý là căn cứ
vào cái này, căn cứ vào cái khác, điều nọ điều kia của bộ luật gì đấy
thì: điều thứ nhất, bắt tên Bùi Đăng Việt (tôi định cải chính ngay là
không phải Bùi Đăng Việt mà tôi là Bùi Tằng Việt, nhưng mà thôi kệ muốn
là cái gì thì nó cũng đến bắt tôi rồi, có cải chính cũng thế) vì tội
sáng tác, tàng trữ, lưu hành những tài liệu có tính chất đồi trụy và
phản động; điều thứ hai là khám xét nhà cửa cẩn thận để thu lại những
bằng chứng của những tài liệu mang tính chất phản động và đồi trụy đó –
nghĩa là vừa khám nhà, tịch thu tài liệu và bắt. Cái lệnh nội dung là
thế, đến khi vào trong tù thì tôi thực sự hoang mang không biết bắt vì
lý do gì là chính chứ còn lý do kia là áp đặt thế thôi, làm gì có tài
liệu gì gọi là phản động, đồi trụy. Họ không dám nói là thơ, họ nói là
tài liệu thôi, trong lệnh bắt không nói là sáng tác thơ. Lúc bấy giờ tôi
chẳng cãi, hơi đâu mà cãi, đằng nào cũng thế rồi, tôi cứ im lặng đi
theo họ khám suốt từ 9h cho đến 2h chiều. Rồi tôi sực nhớ bốn hôm trước
anh Trần Dần đến chơi, có thuật lại ông Tố Hữu mới họp tuyên huấn nói
rằng cái bọn Nhân Văn là chúng tôi tuồn tài liệu ra nước ngoài, để xuất
bản hoặc là bán, vậy thì tôi bị bắt chắc là vì đã gởi thơ cho Nguyễn
Mạnh Hùng, cho cô Cần Thơ.
Giữa chừng vợ tôi về, bà ấy cứ tưởng rằng bắt về
đồn, tức là đồn 14 Lý Quốc Sư như mấy lần trước bắt tôi ra để cảnh cáo
về việc bán rượu lậu, vợ tôi lại ngây thơ như thế cơ! Khi thấy họ đem
hết giấy tờ của tôi đi, vợ tôi có xin lại những bức thư hồi mới quen
nhau tôi có gửi cho bà ấy, khoảng 10 bức, có cả thơ nữa, không có liên
quan đến “tài liệu” gì hết, nhưng họ bảo không được, những cái gì đã là
chữ viết của anh Hoàng Cầm thì chúng tôi có lệnh đều phải tịch thu hết.
Họ tịch thu cả những thư của con Loan gửi cho tôi từ Sài Gòn, cả những
thư của bà Cần Thơ ở bên Pháp gửi về, họ tịch thu hết những gì gọi là
chữ dù chỉ một chữ mà tôi viết lằng nhằng gì đấy ở trên một miếng bìa
hoặc một tờ giấy gói thuốc lá thì đều thu bằng hết.
Cũng nói rõ thêm về việc bán rượu lậu của tôi.
Dạo ấy cũng nhờ bán rượu gia đình tôi có thêm miếng cá miếng thịt còn
trước kia thì khổ lắm. Nguyên do một hôm con gái tôi Bùi Hoàng Yến với
chồng nó là Quang Thái, hai vợ chồng về chơi thấy mâm cơm chỉ vẻn vẹn
một bát nước mắm và một bát dưa chua thế thôi, nó ngồi nó phát khóc vì
thương tôi quá. Nó bảo làm thế nào để bố kiếm sống thêm chớ bố già rồi
mà sống thế này thì khổ quá, để con nghĩ xem, hay là bố bán cafe đi hay
bán cái gì ở trong nhà chớ ra ngoài đường chả có chỗ ngồi, bán cái gì để
bạn bè bố đến ủng hộ. Chính vì lẽ đó mà tôi mở quán rượu, chính con gái
tôi cho tôi được 50 đồng, tôi để ra 10 đồng mua chén, đóng thêm mấy cái
ghế, còn 40 đồng thì mua đúng 5 lít rượu quê, mua được 5 lít rượu quê
là con rể tôi phải đèo xe máy tôi về Lạc Đạo mua. Lúc 2, 3 tháng đầu bán
lác đác phát chán, ôi giời ơi! Bán như thế một ngày không lãi nổi một
đồng bạc thì chán lắm, nhưng tôi không biết làm cái gì thì cứ để đấy,
dần dần cũng đông khách, từ năm 1980 trở đi thì đông khách lắm, nhất là
vào những dịp như Noel hay là chiều thứ 7, chủ nhật hoặc là những ngày
nghỉ lễ thì có thể nói là đông đến mức không có chỗ ngồi, khách ngồi cả
lên giường nằm, ra cả ngoài sân đem rượu ra đấy uống. Thành ra vì chuyện
bán rượu mà hơi rầy rà đối với chính quyền. Chính quyền không cho bán
rượu, cái chính vì tôi là Hoàng Cầm, người đã có lỗi trong thời kỳ “Nhân
Văn Giai Phẩm”, mà bây giờ bán rượu tức là để tụ tập vào rồi sinh ra
cái chuyện tuyên truyền lăng nhăng chăng. Người ta ngại chuyện đó cho
nên luôn luôn độ tuần lễ hay mươi hôm là phải gọi tôi lên đồn một lần để
yêu cầu đình chỉ ngay việc bán rượu. Cứ lên đấy thì tôi viết kiểm điểm
rồi giấy cam đoan như thế, nhưng về rồi thì vẫn cứ bán, vì nếu ngừng một
ngày bán rượu là không có tiền.
Khám xong, làm biên bản xong thì độ hơn 2h chiều,
sau khi làm biên bản thì đọc lại, trong khi tịch thu tài liệu thì không
có đụng chạm gì tài sản của gia đình ví dụ như quần áo, tiền hay bất cứ
tài sản gì vật chất nào đấy. Bà Yến phải chứng thực điều đó, sau đó thì
ra xe, đến lúc bấy giờ ôtô mới đến, ôtô bịt kín của công an đi bắt
người, tôi và hai cái hòm tài liệu có niêm phong đưa về Hỏa Lò. Trong
hai cái hòm ấy có nhiều bản thảo thơ, kịch thơ của tôi chưa xuất bản. Đó
là tài sản duy nhất của tôi. Sau khi Đổi mới, nhiều lần tôi đề nghị
công an Hà Nội trả lại, họ cũng đồng ý nhưng cứ lần lữa mãi không trả.
Đó là một điều tiếc hận nhất trong đời làm thơ của tôi. Cho đến gần đây,
Sở Công an Hà Nội đối với tôi rất tốt, ngay cả những người phụ trách
cũng muốn tìm và trả lại tôi, nhưng rốt cuộc họ không tìm ra! Tôi cho
rằng theo lệnh của ai đó họ đã đốt đi từ lâu rồi, vì đó là những sáng
tác hay của tôi không được phép lưu lại ở đời này, chắc là họ ra lệnh
đốt rồi, nếu thực sự là tài liệu cần thiết cho luật với án thì họ phải
giữ lại chứ?
Buổi chiều ngày 20 tôi vào Hỏa Lò, tôi chỉ mong
được giam vào đâu để có thể ngã xuống nằm, có thể là sàn gạch hay sàn xi
măng cũng được. Nhưng họ bắt tôi ngồi vào cái bàn và có một anh công an
đưa từng cái thư từng bài thơ một, bắt tôi ký vào, kể từ cái phong bì,
nếu cả quyển thì phải ký vào bìa và ký vào ruột, liên miên như thế suốt
từ khoảng 2h30 cho đến 5h chiều. Trong hai tiếng rưỡi cứ ký liên miên
đến nỗi mắt tôi nhíp lại vừa mệt vừa buồn ngủ, đưa cái gì là tôi ký vào
thôi chẳng biết có phải của tôi hay không nữa, lúc đầu còn biết bài thơ
này của tôi hay cái thư này của con Loan nhưng về sau hoa mắt cả lên,
mệt lắm rồi, đã không có được một điếu nào từ sáng rồi, lại đi ỉa chảy
vài lần rồi mà chưa được ăn uống gì. Trước khi lên ôtô về Hỏa Lò thì bà
vợ tôi vội vàng ra phố mua nắm xôi với mấy miếng chả gì đó, tôi đâu kịp
ăn chỉ gói vào giấy báo, đến 5h chiều thì nó khô cứng cả rồi và tôi cũng
chẳng nhớ ở đâu mà ăn. Đến 6h thì anh Phú đưa tôi đến cái hành lang, ở
đó có một cái bàn mà không có ghế, anh bảo “Ông có mệt thì nằm trên cái
bàn này nghỉ tạm một tí rồi thu xếp buồng đưa ông vào”. Anh Phú còn trêu
tôi “Ôi giời ông nghe có vẻ thơ hay lắm nhỉ, thì đọc một bài đi nhỉ,
cái bài gì mà tôi thấy nhiều người truyền lắm, Diêu bông diêu biếc gì
đấy”. Chẳng nhẽ anh công an bắt tôi anh bảo đọc mà tôi không đọc, thế là
tôi cũng cố gượng đọc bài “Lá Diêu Bông”. Anh cười cười bảo “Ôi giời
thơ thế này nó hay thế nào tôi chả biết nhưng chả hiểu gì”…
Sáng hôm sau thì ông Nhạ xuống, xuống cái phòng
của ông trung tá trưởng phòng an ninh điều tra xét hỏi, ông này cũng
tham gia vào việc hỏi cung, nhưng là phụ, còn ông Nhạ là chính. Mở đầu
ông Nhạ bảo “Hoàng Cầm đấy à, tôi là Nguyễn Doãn Nhạ, đây là anh Nguyễn
Trọng Cường trưởng phòng điều tra xét hỏi”. Ông ta ngồi hai tay chắp vào
để trên đầu gối, chân ghếch lên ghế, có vẻ thoải mái. Ông nói “Anh Cầm,
thiệt bất đắc dĩ, thật khó cho tôi, vạn bất đắc dĩ – ông nhấn mạnh –
vạn bất đắc dĩ mới gọi anh đến đây, bởi vì chắc anh nhớ gần 10 năm rồi
tôi đã nhắc anh không được truyền bá thơ thẩn của anh vì nó mang nhiều
tư tưởng xấu lắm, thế mà anh vẫn cứ làm, anh gởi rất nhiều nơi trên thế
giới, gởi sang Canada, Mỹ, Pháp, tư tưởng anh sau Nhân Văn quá nặng nề
như thế”.
Tôi vẫn giữ bình tĩnh “Tất nhiên tôi có tội hay lỗi gì đó mà anh bắt, chứ không có lỗi gì thì làm gì mà bận tâm”.
Ông Nhạ nói tiếp “Tôi hôm nay không phải hỏi cung
anh đâu, tôi không có trách nhiệm hỏi cung nhưng mà nói cho anh biết,
anh quá tệ, nhà nước với Đảng đối với anh như thế là rất tốt rồi, đáng
lẽ cho anh đi cải tạo từ lâu rồi, nhưng đã khoan hồng vì các anh là văn
nghệ sĩ trong kháng chiến chống Pháp cũng có những đóng góp như là bài
thơ “Đêm liên hoan” hay “Bên kia sông Đuống” tôi cũng có thuộc cơ mà. Về
sau hòa bình thì các anh dần dần quá tệ, làm thơ văn làm báo làm chí
chống phá, cho nên tôi nói là bất đắc dĩ tôi phải giam giữ anh, giam giữ
anh thì cốt là để thế này, cốt để anh thực sự nhìn thấy tội lỗi của
anh, thực sự nhìn thấy sai lầm của anh đi, và từ nay trở đi già rồi còn
sống ngày nào thì phải sống cho nó tử tế. Đảng đã khoan hồng như thế
không bắt đi cải tạo, các anh tương đối là tự do, đến bây giờ là bao
nhiêu năm rồi, từ năm 1955 cho đến nay là hơn 20 năm trời rồi mà anh
chứng nào vẫn tật ấy thì thực sự lạ thật, anh không biết nghĩ à?” Ông
nói một tràng rất dài như thế, tôi cứ ngồi nghe thôi. “Hôm nay tôi chưa
phải hỏi cung, tôi cũng là người yêu văn thơ, đấy, nhưng người ta làm
thơ dễ hiểu, nói cái gì là ra cái ấy ngay “Xe không kính không phải vì
không có kính, vì đạn vì bom nó phá đi rồi” thì cái đó nó rõ ràng như
thế, anh thì mập mà mập mờ, với tư tưởng chống Đảng nó cứ ẩn náu vào đây
mãi, thì báo cho anh biết lần này là lần cuối cùng đấy, anh cố mà thay
đổi hẳn đi cái tư tưởng của anh chớ không thì không có cách gì cứu vãn
được nữa, bây giờ anh phải tự cứu lấy anh thôi”. Ông thuyết một hồi thì
lại tôi một điếu thuốc, cái dạo ấy còn thuốc Trường Sơn, thứ thuốc hạng
bét, rồi ông lại mỉa “Hút đi! Đây là Trường Sơn anh nhé chớ không có 3
số 3 siếc gì đâu, tôi không quen 3 số thuốc ngoại sang trọng”…
[Cũng chính ông Nhạ này đã vui mừng vì “thành
công” trong việc ép Hoàng Cầm nhận tội chống Đảng chống chế độ qua mấy
bài thơ “Về Kinh Bắc”, bố trí để nhà thơ đọc bản kiểm điểm thu băng
cassette và hứa sẽ thả cho về trước Tết như HC đã kể trong lời tâm sự
với bạn đọc Talawas mà Văn Việt đã đăng – VV]
0 nhận xét:
Đăng nhận xét