S và S: Cuộc đua 50 năm

Phúc Tiến (bài và ảnh)





 


Tôi gặp lại cái nóng rang của Sài Gòn vào
một chiều cuối tháng 5 ở Singapore, khi bước ra khỏi những toà nhà máy
lạnh. Đứng ở Orchard, tôi nhận ra con đường phồn hoa bậc nhất tại đây
ngày càng nhiều những cao ốc khách sạn, thương xá mới toanh hay vừa được
tân trang, “siêu lộng lẫy ”. Cái nắng vàng cuối ngày choáng ngợp trên
các ô cửa kính bỗng làm tôi nhớ đến một bức hình chụp Orchard năm 1930,
trên bìa một quyển sách bưu ảnh xưa.



Từ hai con đường hoa lệ


Đường Orchard lúc ấy xem ra “một trời, một vực”
với bây giờ. Hai bên đường Orchard xưa chỉ có những căn phố hai ba tầng
ngắn ngủi và thưa vắng. Và ô hay, trên những khung cửa sổ,  la liệt
những chiếc sào phất phơ quần áo và những bảng quảng cáo chữ Hoa, chữ
Anh. Trên đường Orchard năm đó và cho đến bây giờ không có cây xanh. Bức
ảnh chụp thời điểm nào ban ngày không rõ, chỉ thấy đường phố điểm xuyết
một vài chiếc xe hơi và xe kéo lặng lẽ. Lạ chưa, người đi bộ đi xuống
ngay lòng đường vì dường như vỉa hè đã trở thành nơi bán hàng của các
cửa hiệu. Xem chừng, đường Orchard xưa khá bình thường không tấp nập
nhộn nhịp như hiện nay. Mặc dầu, đấy vẫn là con đường quan trọng của
Singapore, nơi ngự trị tòa dinh thự  Istana của Toàn quyền Anh, xây dựng
năm 1867.







Hình ảnh  Orchard road năm 1930 trên sách 500 bức
Bưu ảnh xưa của Singapore và Đại lộ Charner thời điểm 1925-1930 (sau
năm 1954 đổi tên là đường Nguyễn Huệ). Ảnh: TL





Và rồi, tôi nhớ đến những bức ảnh chụp đường Charner
(sau năm 1954 đổi tên là Nguyễn Huệ) – con đường đô hội số 1 của Sài
Gòn. Trong ảnh ở cùng thời điểm 1920-1930, nếu so Charner với Orchard
thì đó lại là “một trời, một vực” khác. Đường Charner là Đại lộ
(Boulevard) đúng nghĩa với một đường chính và hai đường phụ song song,
có đủ hai hàng cây xanh cao lớn. Điểm độc đáo lớn nhất của Charner –
không phải thành phố nào cũng có, chính là con đường chạy thẳng từ Tòa
thị chính đổ ra công viên dọc bờ sông. Lần lượt từ bờ sông đổ vào là một
loạt những kiến trúc nguy nga, khởi đầu bằng Tòa nhà Quan thuế (Hải
quan), kế đến là Kho bạc và rồi Thương xá Charner (Thương xá Tax), cuối
cùng là Tòa thị chính ra đời năm 1910. Đan xen với những kiến trúc độc
đáo ấy, chạy dài hai bên đại lộ là những dãy nhà phố thương mại, nhà
hàng, khách sạn, văn phòng công ty, căn hộ, gara xe hơi… Tất cả đều là
kiến trúc hai ba tầng với mái ngói xinh xắn, theo kiểu Beau Arts,
Gothique… hài hòa và trang nhã.


Trong những hình này, không thấy tòa nhà nào có
quần áo treo ngoài cửa sổ, không thấy bảng quảng cáo phô trương lộn xộn.
Càng khác với Orchard, giữa vòng xoay giao lộ Charner và Bonard (đường
Lê Lợi ngày nay) đối diện với Tòa thị chính có đặt một chiếc “bồn kèn” –
nơi cuối tuần quân nhạc đến biểu diễn (những năm 1950, bồn kèn bị thay
bằng bồn phun nước khá đẹp nhưng rất tiếc mới đây nó lại bị xóa sổ).


Vật đổi sao dời, Charner và  Orchard – hai con
đường hoa lệ  85 năm sau đều đổi khác. Orchard hầu như thay đổi hoàn
toàn, trở thành một “ lady“ quý phái. Còn Charner – Nguyễn Huệ, vẫn là
một tiểu thư kiều diễm nhưng không giấu được đôi nét nhan sắc tàn phai.
Than ôi, không chỉ hai con đường, nhìn rộng ra Sài Gòn và Singapore –
sau một thế kỷ phát triển song hành đã có nhiều nét khác biệt. Vì sao
thế? 




Singapore phát triển hài hòa giữa cổ xưa và hiện đại.


Hai hòn ngọc kế cận và cuộc chạy đua 50 năm


Đầu thế kỷ 20, Sài Gòn từng là “Hòn ngọc Viễn
Đông” trong mắt người phương Tây. Thế nhưng, đừng quên vùng Đông Á không
chỉ có một hòn ngọc duy nhất mà cả vùng hợp lại chính là một chuỗi ngọc
lưu ly. Chuỗi ngọc đó có những hòn ngọc xinh đẹp như Tokyo, Thượng Hải,
Hồng Kông, Manila, Rangoon, Bangkok… Trong đó, Singapore và Sài Gòn,
hai hòn ngọc kế cận – cách nhau chỉ 90 phút đường bay và khoảng 770 hải
lý, đã chia sẻ cùng một định mệnh.


Về mặt địa lý, Singapore là đảo, Sài Gòn là đất
liền song cả hai đều có thiên nhiên nhiệt đới, khí hậu ôn hòa. Cả hai
tên gọi đều bắt đầu bằng chữ S, đều có dòng sông lớn thẳng đường ra
biển. Về mặt lịch sử, cả hai tuy có quá khứ khác nhau nhưng đều lần lượt
trở thành thuộc địa của thực dân Tây Âu vào thế kỷ 19. Trong đó, đầu
tiên Singapore bị quản trị bởi người Anh vào năm 1819, lúc còn là đảo
vắng, chưa có hoạt động kinh tế nào đáng kể. Còn Sài Gòn mãi đến 1859
mới bị người Pháp xâm chiếm khi đã là một kinh thành, một cảng thị sầm
uất. Người Anh nhanh chân và may mắn hơn có được một Singapore đất trống
hoàn toàn để lên quy hoạch, thiết kế một thành phố mới từ A đến Z.
Người Pháp gặp nhiều khó khăn vì vừa phải đối phó với các cuộc phản
kháng và nổi dậy của người Việt, vừa dốc sức làm nên thành phố mới trong
lúc vẫn phải dung hòa với đô thị cổ Gia Định và Chợ Lớn.


Không chỉ có London là nơi hỗ trợ, Singapore còn
nhận được chi viện đáng kể, gần gũi của các thuộc địa khác trong vùng
của Anh như:  Penang – 1786, Malacca – 1824 và Hồng Kông – 1842. Chính
từ những nguồn lực vật chất và bề dày thời gian như thế, vào đầu thế kỷ
20, Singapore từ một chấm đỏ vô danh đã trở thành cảng thị phồn hoa, một
London nhỏ ở Viễn Đông. Thế nhưng, vào cùng thời điểm ấy, lại nổi lên
Sài Gòn cũng là một cảng thị náo nhiệt cùng cỡ, một Paris nhỏ yêu kiều.
Giá mà văn hào Charles Disken (1812-1870) đến được Singapore và Sài Gòn
thời ấy hẳn là ông sẽ có cảm hứng để viết một tiểu thuyết mới cùng mang
tên “The Tales of Two cities” (*). Quyển tiểu thuyết sẽ kể chuyện cuộc
bươn chải của London nhỏ và Paris nhỏ diễn ra như thế nào.




So sánh những mô hình phát
triển, những cơ chế vận hành khác nhau là cách cần thiết để học hỏi,
nhằm tránh những phút giây tự huyễn hoặc mình, hay chỉ biết “tự sướng”
trong những giấc mơ cô đơn, không đi cùng nhân loại.



Trong cuộc bươn chải ấy, Sài Gòn không chỉ khai thác
được nguồn lực của Paris, mà còn cả Đông Dương. Ngay từ đầu Sài Gòn đã
tận dụng được các nguồn lực quốc tế đến từ “Đảo Sư tử” và nhiều nơi
khác. Chính các đô đốc Pháp khi mở mang Sài Gòn đã không ngại nhập khẩu
cả phương tiện lẫn nhân lực từ các thuộc địa Anh để làm nên một Sài Gòn
mới. Năm 1863, chính quyền Pháp đã mua khung nhà bằng gỗ từ Singapore về
để dựng lên “soái phủ”, trước khi chuyển sang xây dựng dinh Norodom
(1868-1871) – tiền thân của Dinh Độc lập sau này. Chính quyền Pháp cũng
đã cho người Ấn Độ, người Hoa Peranakan từ Singapore, Malaysia đến Sài
Gòn khai phá những nghề mà người Việt, người Hoa Chợ lớn chưa từng làm.
Nhiều nhà buôn Anh, Trung Hoa, Ấn độ, Nhật Bản và ngay cả Hà Lan, Mỹ đã
nhanh chóng đầu tư và làm ăn lâu dài tại Sài Gòn. Những sắc dân tứ xứ
hợp cùng người bản địa làm nên một Sài Gòn phồn thịnh, đa dạng đúng như
trải nghiệm đã có ở Singapore.


Bước vào đầu thế kỷ 20, sau 50 năm xây dựng, Sài
Gòn đã định hình là một đô thị quốc tế, có phố xá văn minh và cơ hạ tầng
hoàn chỉnh. Sài Gòn nhanh chóng trở thành một vị trí giao thương không
thể thiếu trên bản đồ thế giới. Thời điểm đó, Sài Gòn sánh vai toàn diện
cùng Singapore và trong một số mặt đã có điểm này điểm kia nổi trội,
như  quản lý đô thị (phố xá, giao thông, xe cộ, sân bay… ) hay cơ sở
công nghiệp (đóng tàu, điện nước, may dệt…). Có lẽ, với lợi thế của
người đi sau và sự năng động của cả người Pháp, người Việt và các cộng
đồng cư dân mà Sài Gòn đã làm nên kỳ tích trên.


Thêm nữa, thành công của Singapore và Sài Gòn vào
đầu thế kỷ 20 xét cho cùng chính là nhờ cơ chế vận hành. Cả hai S và S
đều được thực dân Anh và Pháp áp dụng chế độ trực trị, đều được coi là
tỉnh thành của chính quốc. Nhờ đó Singapore và Sài Gòn đều sử dụng  luật
lệ, tiêu chuẩn quy hoạch và điều hành thành phố như ở châu Âu. Từng
viên gạch xây nhà, từng viên ngói đỏ và hệ thống pháp lý ngay từ buổi
đầu đều được nhập khẩu trực tiếp từ London hay Paris. Cả hai thành phố
nhanh chóng có Hội đồng Nghị viên, bao gồm người tại chỗ và các viên
chức thuộc địa, để tư vấn và giám sát chính quyền – một thiết chế dân
chủ còn xa lạ ở phương Đông. Cả hai lần lượt có Luật Ngân sách riêng, có
Tòa án, có Cảnh sát, có Nhà hát, Bệnh viện, Trường học  và những cơ
quan, trang thiết bị cần thiết để “chiếc xe đô thị ” có thể chạy độc
lập. Người “tài xế” chiếc xe ấy là những viên chức cai trị “lành nghề”
được chọn lựa gắt gao, có thu nhập xứng đáng và làm việc theo nhiệm kỳ.
Cơ chế vận hành ấy ngày càng hoàn thiện nhưng rồi qua nửa cuối thế kỷ
20, những biến động của lịch sử đã làm S và S thay đổi theo những hướng
khác nhau, cách vận hành khác nhau.




Đường Nguyễn Huệ mới với diện mạo phố đi bộ.


Chiến tranh, rào chắn và tầm nhìn


Tháng 6.1940, nước Pháp thua trận, Phát xít Đức
tràn vào chiếm đóng. Ở Đông Dương, tháng 9.1940, Phát xít Nhật chiếm
Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng, Thực dân Pháp nhường bước, mở cửa cho Nhật
vào chiếm đóng. Sài Gòn trở thành nơi đặt đại bản doanh của quân Nhật
chỉ huy toàn khu vực Đông Nam Á.  Tháng 2.1942, Nhật dội bom tàn khốc,
quân Anh thất trận, Phát xít Nhật chiếm trọn Singapore. Chiến tranh thế
giới thứ Hai kết thúc, người Anh trở lại Singapore trong khung cảnh
thanh bình nhưng người Pháp lại dấy lên cơn binh lửa mới ở Đông Dương.
Từ ấy Sài Gòn và cả Việt Nam lâm vào cảnh đình đốn và phát triển chậm
lại, suốt chín năm chiến tranh. Từ năm 1954 đến 1965, Sài Gòn có được
mười năm hồi phục, dần trở lại hình ảnh Hòn ngọc Viễn Đông duyên dáng và
nhộn nhịp. Nhưng rồi, chiến tranh lại bùng nổ khốc liệt, Sài Gòn vừa
trở thành căn cứ hậu cần khổng lồ của nửa triệu quân Mỹ, vừa trở thành
tiền tuyến sôi động, nhất là sau tết Mậu Thân 1968. Sài Gòn mất đi nhiều
cơ hội để lớn mạnh.


Với Singapore, giai đoạn 1945-1965 là thời gian
bươn chải vượt lên nhiều cuộc khủng hoảng chính trị, sắc tộc và kinh tế.
Bằng thể chế bầu cử dân chủ do người dân đấu tranh giành được,
Singapore đã nỗ lực và tự tin chuyển từ chính quyền tự trị trong liên
bang sang chính quyền quốc gia độc lập, tách khỏi Malaysia. Cộng hòa
Singapore ra đời cách đây 50 năm với nguồn lực quý giá nhất là con
người, đặc biệt có được một đảng cầm quyền quyết liệt cải cách đất nước.
Từ 1965-1995, Singapore tạo ra cơ chế vận hành mới, định hướng phát
triển không cào bằng, xây dựng những mũi nhọn cạnh tranh với khu vực và
thế giới. Từ một đô thị chỉ dựa vào cảng biển và làm hậu cần cho quân
đội Anh với một số công nghiệp, dịch vụ thông thường, Singapore nhanh
chóng tập trung phát triển công nghiệp kho vận, hóa dầu, hàng không,
viễn thông, điện tử… Singapore còn dồn sức xây dựng công nghiệp tài
chính – ngân hàng, chạy đua với Hồng Kông và Tokyo. Người Singapore tỏa
ra khắp thế giới học hỏi và thu hút từ cây xanh đến kinh nghiệm quản lý
đô thị và nhân lực chất lượng cao. Ba mươi năm bươn chải sáng tạo đã làm
nên một diện mạo Singapore hiện đại, ngang hàng với các đô thị trung
tâm Âu Mỹ. Những hình ảnh xưa cũ về một Singapore đan xen giữa giàu sang
với lam lũ và nhếch nhác đã lùi nhanh vào quá khứ.


Năm 1994, lần đầu đến Singapore tôi chứng kiến
một đô thị nóng bức quanh năm nhưng rất xanh và sạch. Hệ thống xe điện
MRT ngày ấy mới khai trương có các toa xe và nhà ga sang trọng và an
toàn. Các Viện Đại học công lập NUS và NTU có cơ sở rộng lớn, nhộn nhịp
sinh viên và giảng viên nhiều nước, bắt đầu đĩnh đạc đi vào danh sách
các đại học Top thế giới. Hàng ngàn công ty đa quốc gia đặt hãng xưởng
và trụ sở khu vực ở Singapore. Trong đó nhiều công ty Mỹ đã gởi đến gần
một trăm chuyên viên Việt kiều làm nên một cộng đồng nói tiếng Việt ở
Singapore, từ trước lúc Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Lúc ấy,
một biểu tượng về sự cất cánh của Singapore chính là sân bay Changi.
Đây là sân bay mới xây dựng trên nền đất lấn biển từ năm 1981, tấp nập
hàng trăm chuyến bay một tuần. Đến năm 1988, Changi được bình bầu là sân
bay số 1 thế giới.


Trong lúc Singapore phát triển vũ bảo như thế thì
10 năm đầu sau chiến tranh, sân bay Tân Sơn Nhất và cả Sài Gòn chuyển
thành một “ga xép” với nhiều ký ức buồn. Sau 1975, Sài Gòn được vận hành
bởi một cơ chế chung, quản lý sai và duy ý chí, thiếu vắng hình bóng
của thị trường và ý nguyện của người dân. Cơ sở hạ tầng của thành phố hư
hao, xuống cấp trầm trọng. Thành phố ba triệu dân loay hoay chạy gạo
trong vòng “ngăn sông, cấm chợ”. Hoạt động công nghiệp, giao thương, du
lịch chỉ quẩn quanh nội địa và khối COMECON. Nhân tâm ly tán, nhiều
người phải ra đi, trong đó nhiều tư sản người Hoa, người Ấn Độ không đi
đâu xa mà dừng chân ở Singapore, dựng lại cơ đồ. May mắn và không thể
nào khác, chính những người lãnh đạo cấp tiến và người dân Sài Gòn năng
động đã đi tiên phong trong chuyện “xé rào”, “tháo gỡ”, phản kháng quyết
liệt với cơ chế “quan liêu bao cấp”. Những năm 1986-1995 là những năm
Sài Gòn cùng cả nước chòi đạp dữ dội để vừa xác lập cơ chế mới, vừa đấu
tranh thoát khỏi bao vây và cấm vận.


Sài Gòn và cả nước đã thành công khi mở được cánh
cửa Đổi Mới, về lại với kinh tế thị trường, về lại với liên thông quốc
tế. Thú vị thay, Singapore lại trở thành một trong những đột phá khẩu
đầu tiên, một đầu cầu quan trọng để Sài Gòn và Việt Nam ra bên ngoài.
Năm 1992, lãnh đạo Singapore đã được thuyết phục bằng thực tế năng động
của Sài Gòn và các chính sách Đổi Mới của cả nước để quyết định bãi bỏ
cấm vận Việt Nam, tái lập bang giao, đúng ba năm trước khi người Mỹ làm
chuyện này. 


                                                                            ***


Hiện giờ, mỗi năm Singapore đang đón gần nửa
triệu lượt người Việt Nam đi chơi, đi học và làm việc. Nhiều người trong
họ đến từ Sài Gòn, hẳn đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của
Singapore và không thể không tự hỏi đến khi nào Sài Gòn ngang hàng với
Singapore? 


Ở thời điểm 2015, khi kinh tế thế giới và khu vực
đang hồi phục, cộng đồng kinh tế ASEAN sắp ra đời thì đó chính là thời
điểm S và S trở lại cuộc đua “The Tales of two cities” trước đây. Nói
đúng hơn, Sài Gòn phải là người nghĩ ra cuộc đua đó để cố gắng bắt kịp
Singapore đang bỏ xa phía trước. Khoảng cách S và S ngày nay không chỉ
đo bằng GDP hay doanh thu công nghiệp và du lịch. Ở thế kỷ 21, Singapore
đã tăng tốc tiến sang những lĩnh vực phát triển mới như công nghiệp
sinh học, công nghiệp giải trí và ngay cả du lịch chất lượng cao. Thêm
nữa, trong văn hóa và giáo dục, Singapore đã và đang tạo nên nhiều thành
tích cao, kể cả trong lĩnh vực an sinh. Hãy chờ xem tháng 8 này, nhân
kỷ niệm 50 năm lập quốc, Singapore sẽ công bố những thành tựu và đích
đến tương lai như thế nào. Và rồi, người Sài Gòn lại thêm một lần suy
nghĩ, chính quyền và xã hội của mình sẽ cần đến những mục tiêu phát
triển cụ thể ra sao cho cuộc bươn chải 10-20 năm tới, trong tương quan
với thành phố Sư tử láng giềng.


Mọi so sánh đều khập khiễng, nhất là so sánh quá
khứ và tương lai. Nhưng so sánh những mô hình phát triển, những cơ chế
vận hành khác nhau vẫn là cách cần thiết để chúng ta học hỏi nhằm tránh
những phút giây tự huyễn hoặc mình, hay chỉ biết “tự sướng” trong những
giấc mơ cô đơn, không đi cùng nhân loại.


 


(*): Tiểu thuyết xuất bản năm 1859, với hơn
200 triệu bản bán ra, được Charles Dickens viết tại London và Paris
trước và trong cuộc Cách mạng Pháp, mô tả hoàn cảnh tương đồng xã hội ở
London và Paris.







Share on Google Plus

About Unknown

Bài viết này được chia sẻ bởi Unknown.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét