Về sau này, có ý tra vấn tìm hiểu về số phận những
người con trai con gái của ông Ba Thê, về nết na, hạnh kiểm của họ, về
hành vi tư cách của họ, tôi chỉ biết rõ thêm một điều: là trên cuộc đời
họ lúc nào cũng loáng thoáng những bóng dáng ám ảnh của các tấm danh
thiếp và các người “se a-mi” của ông Ba Thê Đồng Thời.
Trên những tấm danh thiếp to bằng nhau, in những dòng
chữ giống hệt nhau, mỗi khi gửi đến bất cứ người bạn nào ông Ba Thê
cũng vung tay bắt đầu: “Cher ami”.
Se a-mi! Hỡi người bạn hữu thân ái! Tiếng xưng hô đẹp
đẽ ấy, tiếc thay lại trừu tượng quá, khiến người ta không ngờ được cái
chứa đựng phong phú của nó. Đối với ông Ba Thê, mỗi se a-mi là một kỷ
niệm càng ngày càng xa thêm, càng hiếm, càng khó khăn nhọc mệt trong sự
tìm nhớ thêm. Đối với bà Ba Thê, mỗi se a-mi là một chuyến đi, là một
cuộc chờ đợi, một cơ hội rủi may vô danh, không hề có mặt mũi. Nhưng đối
với các đứa con thì những “se a-mi” ấy lại có trăm nghìn bộ mặt khác
lạ: những khu vườn khác nhau, những cổng vào khác nhau, những ngôi nhà
khác nhau, phòng khách khác nhau, những cách mở cửa, cách tiếp đón khác
nhau, những người chủ nhà và những cách đưa tiễn khác nhau. Nghề làm
“phắc-tơ” miễn cưỡng lúc thiếu thời đã để lại trong tâm trí của ba đứa
trẻ những ấn tượng không bao giờ phai nhòa.
Trước hết đứa anh cả lên mười ba tuổi bắt đầu đưa
thư. Người bạn hữu thân ái đầu tiên của ba nó là một người gầy nhom, để
hai vệt râu mép và đeo cái kiếng trắng gọng vàng. Toàn vào nhà ông ta
liền trông thấy gần mười người khách tề tựu xung quanh một bàn ăn, mới
vừa khởi sự dùng món xúp. Mọi người ngạc nhiên ngoảnh lại nhìn ra phía
cửa, đứa bé sợ hãi không ngờ nó bước tới một cảnh linh đình như thế.
Nhưng khi nó trao tấm danh thiếp ra, người bạn hữu thân ái của ba nó
liếc qua một cái, đoạn cười ha hả: “A! đờ me-xừ Ba Thê!”. Trong đám tân
khách nổi lên những tiếng phụ họa: “Me-xừ Ba Thê! Me-xừ Ba Thê! ha ha!”
khiến nó không biết được có bao nhiêu là kẻ hoan nghênh. Nó ngẩng đầu
lên ngó ngang một cái: có ông cười vui vẻ toác mồm, mắt nhìn nó ánh lên
một sung sướng đầy đủ lạ thường, có ông chậm trễ còn húp rán một muổng
xúp, vơ khăn chùi mép qua loa rồi ngửa mặt lên cười một tiếng lớn… Trong
lúc ấy một người đàn bà hãy còn trẻ quá so với các ông cụ đồng bàn,
người đàn bà ngồi ở tận phía đầu bàn đằng xa, mặc cái áo bông vàng giống
như những bông cúc nhỏ, một tay đặt lên cái xắc để trên đùi, nhìn nó có
vẻ lúng túng, thương hại, lo lắng. Toàn cảm thấy nếu nó đứng gần bà ta
hơn nữa, có lẽ bà khách có một câu gì muốn hỏi riêng nó. Nhưng nó không
dám nhích bước tới: xung quanh nó hãy còn sự ồn ào khó hiểu. Một bức thư
“của ông Ba Thê” đối với các ông cụ ấy là một điều cực kỳ ngộ nghĩnh
vui vẻ. Người ta trao đổi những câu tiếng Pháp vắn tắt để hỏi nhau những
chi tiết mà nó chắc là thuộc về ba nó. Rồi người bạn hữu thân ái của ba
nó gọi một đứa con trai cũng bằng tuổi nó, gầy nhom như bố, tóc chải
rẽ, mặc đồ soóc, bảo đem lại một chiếc phong bì; ông bạn hữu thân ái móc
túi lấy ra một tờ bạc năm đồng bỏ vào phong bì với sự giấu lén rất vụng
về khiến cả bàn ai cũng trông thấy. Trong khi trao chiếc phong bì lại
cho Toàn, ông ta nghiêm chỉnh nét mặt, dặn dò những người khách đồng
bàn: “Những kẻ thất thế càng là bạn hữu… Không hôm nào là nhà tôi không
gặp những trường hợp như thế… Tội nghiệp me-xừ Ba Thê”. Mọi người nổi
lên hưởng ứng tán thành: “A, tội nghiệp me-xừ Ba Thê! Me-xừ Ba Thê… Khá
lắm, một tay chơi tài bàn khá lắm đấy!”.
Toàn về tới nhà, trao chiếc phong bì cho ba nó. Ba nó
hé ra liếc một cái rồi xếp lại thản nhiên bỏ túi. Tờ bạc hôm đó, ngày
hôm sau chuyển tới tay má nó.
Cũng như những dòng chữ “Se a-mi”, các tờ bạc giống
nhau một cách tai hại. Theo nó, đáng lẽ trên mỗi tờ bạc phải vẽ riêng
một cái hình. Và bao giờ nhớ tới tờ bạc của người bạn hữu thân ái đầu
tiên của ba nó, Toàn cũng thấy rõ hình người cao nhòng đeo kính trắng,
có râu mép, khuôn mặt dài như mặt ngựa, mặc chiếc áo dài trắng bên
trong, và áo lương đen ở ngoài, đi giày hạ; nó cũng thấy cây gậy ngắn
tiện bằng trắc mà ông bạn hữu gác trên một quyển sách để ở chỗ cửa sổ
trông vào buồng ngủ; nó thấy lại những hạt “pơ-tí poa” bằng đầu ngón tay
út nổi trong các đĩa xúp nóng hổi; nó thấy lại cái nhìn lo lắng của
người đàn bà mặc áo bông vàng… Những hình ảnh lộn xộn và tiếng cười “ha
hả” rần rộ ấy đón tiếp chuyến đi đầu tiên của nó, ban đầu làm cho nó bỡ
ngỡ, nhưng về sau cứ dần dà mỗi lúc nó mỗi tìm thấy trong đó thêm một ý
nghĩa xấu xa, xúc phạm đến gia đình mình.
Rồi tiếp tục lần dò tìm những địa chỉ mà ông Ba Thê
đề trên các chiếc phong bì nhỏ xíu, Toàn đã gặp những cánh cổng buộc
bằng một sợi dây xích rất nặng, gọi mãi thật lâu mới có người ra mở, mở
xong sợi dây xích bị thả rơi đập mạnh vào cánh cửa gỗ vang lên một tiếng
to và rỗng, lạnh lùng, tàn nhẫn. Nó đã bước vào buồng ngủ của những
người đàn ông đứng tuổi sống độc thân, gian buồng hăng nồng nực mùi tro
thuốc, chủ nhà giản dị gọi nó vào tận bên một chiếc giường rộng, nệm gối
trắng tinh, và lục hết ví này đến ví khác, mở bóp soạn tiền ra ngay
trước mắt nó. Nó cũng đã bước vào những gia đình mà người ta qua lại
thản nhiên, không hỏi đến nó, người nào cũng chối từ trách nhiệm phải
tiếp nó, để mặc nó dựa vào vách đứng đợi chờ hằng nửa giờ… Một lần Toàn
gọi cửa một ông giáo sư. Một bà cụ già ra mở cửa, dẫn nó qua một gian
nhà rộng, cao vút, có những cây cột to tướng mà không có người. Nó được
đưa qua một khoảng sân nhỏ, giữa sân là cái bể nước với một hòn non bộ,
hai bên góc sân có hai chậu cây đại tướng quân (cái tên kỳ cục!), tất cả
thở ra một không khí mát lạnh. Một con bồ câu trắng quen với sự yên
tĩnh thân mật đến nỗi bà cụ già và Toàn bước đi sát bên cạnh mà nó chỉ
nhích tránh một tí, không chút hoảng hốt. Bước vào nhà sau, rộng và tối,
Toàn có cảm giác từ những buồng hai bên lối đi có những cặp mắt nhìn
theo nó, những cặp mắt dè dặt, kín đáo.
Đường đi dài quá, cảnh nhà trang nghiêm, êm đềm, có
một vẻ gì hiền lành quá, làm cho thằng bé áy náy ngại ngùng. Nó thấy
mình tự dưng mang một sự quan trọng không xứng đáng. Nó có cảm tưởng sau
khi được đưa dẫn qua bao nhiêu lần cửa, bước qua bao nhiêu gian phòng
rộng bát ngát, khuấy động bao nhiêu sự sống yên lặng, để rồi đưa ra tấm
danh thiếp với những dòng chữ như nó đã biết, làm như thế nó có vẻ lừa
bịp mọi người.
Bà già đưa nó tới trước mặt một ông cụ to lớn mặc áo
vạt hò, ngồi xếp bằng, đọc sách. Bà vịn tay lên vai nó dúi tới một cái
nhẹ để cho nó hiểu là đã tới người nó muốn gặp. Ông lão ngẩng mặt lên,
trên khuôn mặt to tướng cặp kính trắng có gọng đồi mồi cũng quá to. Ông
ta ngạc nhiên nhìn sững nó một lúc. Nó quay lại: bà cụ già đã rút lui tự
lúc nào. Nó đưa chiếc phong bì ra, người bạn hữu thân ái của ba nó tiếp
nhận và đọc quá kỹ lưỡng. Chưa bao giờ nó thấy ba nó được xem quan
trọng như thế. Đọc xong ông giáo sư to lớn bỏ chân xuống đất quơ tìm đôi
dép, đứng dậy vội vã đi vào nhà trong, nhưng vừa đi vài bước liền
ngoảnh lại dặn nó: “Chờ tí. Chờ đó một tí nhé!”.
Ông giáo sư già thì thầm bàn tán với người vợ rất
lâu, sau một tấm màn màu đỏ sẫm, trong lúc thằng bé một mình đứng lo
lắng, nhìn hai chiếc đoản kỷ và cái bàn chạm trổ tỉ mỉ công phu, mũi
ngửi phảng phất một mùi thơm lành lạnh không biết tiết ra từ phía nào.
Rồi ông giáo sư vén màn bước ra, đưa cho nó một chiếc phong bì, đoạn vừa
lấy vạt áo lụa lau cái kính, vừa nói ôn tồn:
— Mang về đưa cho ba. Cẩn thận nhé.
Bỗng bàn tay lau kính của ông ta do dự, ngừng lại, rồi ông ta nhìn thằng bé hỏi:
— Cháu là con ông Ba, phải không?
— Thưa cụ, phải.
Ông ta nhìn nó thêm một chút nữa, rồi từ do dự hóa ra
bối rối, ông ta đổi ý kiến, lấy lại chiếc phong bì, trở vào phòng trong
bàn tính thì thầm với vợ một lần nữa. Cũng khá lâu. Một lát sau, ông ta
trở ra đưa bì thư cho nó, lại vừa nói vừa lau kính, nhưng lần này ông
ta lau lầm trên cái gọng đồi mồi to tướng.
Thằng bé không bao giờ biết được lúc trở vào buồng
ông giáo sư già đã bàn tính và thêm vào hay bớt đi sự giúp đỡ là bao
nhiêu. Nó cũng không đoán được sự quen biết giữa ông giáo sư và ba nó
như thế nào. Nhưng nó thấy rõ hành động của cha nó đã gây một xúc động
trong cuộc sống yên tĩnh của gia đình người bạn hữu tuổi tác và hiền
lành ấy. Nó nghĩ ngợi về công việc mình làm.
Tiếc thay ông Ba Thê lại không nghĩ gì về công việc
của ông ta. Bởi vì người ta không có sáng kiến vẽ trên mỗi tờ giấy bạc
một cảnh khác nhau, ông Ba Thê làm sao hình dung được sự phân vân bối
rối khổ sở của người bạn hữu thân ái lúc người ấy run run lau mặt gương?
Toàn ái ngại hết sức khi phải làm phiền lụy đến một kẻ hiền lành, trịnh
trọng như thế. Nhưng ông Ba Thê thì vững tin ở mình, ông tiếp tục viết
thư cho các người “se a-mi”.
Một hôm khác, Toàn lại đem thư tới một ông cụ già,
một công chức về hưu. Ông cụ này thấp nhỏ, bước từng bước ngắn mà nhanh,
êm ru như lướt trên mặt đất. Tóc ông đã bạc phau, hớt ngắn. Mắt ông lem
hem, trông rất kém. Nhờ vóc người vạm vỡ và dáng đi nhanh, ông ta trông
có vẻ còn mạnh mẽ, nhưng nhìn kỹ vào cặp mắt, người ta thấp thoáng thấy
được sự suy nhược tinh thần. Cặp mắt ấy nhìn sấn sổ vào mặt Toàn làm
cho nó sợ hãi ngoảnh mặt tránh đi, nhưng cặp mắt vẫn tiếp tục lục soát
trên mặt nó, từ mũi, tai đến cổ, ót, tự nhiên như ngắm nghía một chiếc
đầu lâu. Mỗi người bạn hữu có một cách đọc danh thiếp khác nhau, có
người liếc nhanh qua rồi bỏ vào túi ngay, có người đọc đi đọc lại đôi ba
lần, nhiều người đọc xong lại nhìn qua thằng bé đem thư một cái như để
kiểm soát, đối chiếu với tang vật. Sự kiểm soát của ông cụ già này kéo
dài một cách vô lý, làm cho mồ hôi rướm ra dưới chân tóc đứa bé vì cảm
tưởng nhục nhã.
Mãi ông ta mới lên tiếng hỏi: “Ông Ba Thê đang làm
cái gì ở nhà?” Toàn đáp: “Dạ, ba cháu uống trà”. Ông cụ già gục đầu
xuống càu nhàu: “Uống trà, uống trà. Lúc nào cũng uống trà, thằng cha tệ
quá. Chẳng chịu làm một cái gì cả. Đã cơ cực rồi mà vẫn còn giữ thói
đài các… Tao nghe ông Ba Thê không chịu điểm tâm ở nhà, sáng nào cũng đi
ngót cây số, ra tiệm ăn bánh bao, uống cà-phê. Có không?”
— Không. Ba cháu vẫn ăn sáng ở nhà chứ ạ.
Ông cụ già tưng hửng như người chợt đánh rơi một cái gói đang hăm hở sắp mở ra. Ông ta cúi xuống nhìn lại thằng bé, hỏi:
— Mày… con ông Ba Thê hả?
— Dạ.
— Năm nay bao nhiêu tuổi?
— Mười bốn.
— Mười bốn. Tuổi thân. Sanh tháng nào?
Thằng bé ngạc nhiên: “Dạ, cháu không biết”. Ông ta
lại càu nhàu: “Không biết, không biết! Sanh tháng nào cũng không biết là
nghĩa lý gì? Ba mày không bao giờ nói cho mày biết à?”
Thằng bé ngẩn ngơ, sợ hãi. Ông cụ già bỏ mặc nó,
nghiêng cái đầu tròn quay, tóc cụt, của ông ta xuống gần mặt bàn, giương
cặp mắt lem hem khó nhọc tìm kiếm những hột cải đổ không biết tự lúc
nào tản mác khắp trên bàn. Bàn tay mặt của ông xòe ra, đưa những ngón
tay to, cụt ngủn và khô rốc, sần sùi, vụng về xoa trên mặt bàn để tìm
hột cải.
Mãi thật lâu, đứa bé thất vọng toan cất tiếng chào để
rút lui thì ông ta vùng quay lại, chụp hỏi về lá số tử vi mà ông ta đã
chấm cho ba nó ngày xưa. Ông ta muốn biết lá tử vi ấy còn không, có đúng
không? Ông ta còn cho biết bà Ba Thê cũng được ông cho một lá số. “Má
mày còn giữ đó chứ? Cứ mở ra coi, làm gì mà chẳng đúng. Tao nhớ rõ mà:
hai vợ chồng Ba Thê còn khó khăn hai năm nữa. Về bảo ba mày mở lá số ra
xem. Hay là hôm nào xuống đây, tao coi lại cho. Nhá! Hả? Cháu cũng muốn
chấm một lá số à? Ừ, cháu được mấy tuổi?”
— Mười bốn.
— Sanh tháng nào?
— Cháu không biết.
— À, không biết, không biết. Tao quên! Mày thì không biết cái quái gì cả.
Cứ thế ông cụ già lôi đứa bé quanh đi quẩn lại xung
quanh mỗi vấn đề đôi ba lượt. Hết chuyện này đến chuyện kia, mãi không
thấy ông ta đá động gì đến chuyện món tiền bỏ phong bì. Nếu không tin
hiểu vững vàng như thằng bé Toàn tin ở ba nó thì người ta đã có thể ngờ
rằng trong tấm danh thiếp lần này ông Ba Thê quên nói tới tiền bạc.
Có lúc ông già nói chuyện về ban trị sự hội Phật học,
trong đó ông ghét người nào, ưa người nào, kẻ nào ngay thẳng có thiện
tâm, kẻ nào lợi dụng tiền bạc của thập phương thiện tín trong việc cung
chú Phật tượng. Có lúc ông cụ lại kể những dự định lập một sở nuôi gà ba
trăm con của ông ta, bắt đầu từ năm mươi mái, trồng bao nhiêu cây thu
đủ dầu, cho ăn mỗi ngày bao nhiêu lít hột ngô v.v… Ông cụ quay lại hỏi
tại sao ông Ba Thê không làm như thế và dặn thằng bé về “bảo ba mày
xuống đây tao vẽ cho”.
Cứ mỗi lần ông cụ già ngưng lại hơi lâu, chăm chú xoa
tay nghẻo đầu tìm hột cải trên bàn một cách khó khăn, và thằng bé toan
thừa cơ hội để rút lui, thì ông ta liền bất ngờ quay lại như vồ lấy nó,
bắt nó nghe về một chuyện khác.
Một giờ, một giờ rưỡi, vẫn không thoát khỏi. Đứa bé
cảm thấy mình rơi vào một trường hợp lố bịch và nhục nhã. Nó muốn khóc,
nó ngó quanh quất chung quanh tìm một sự cứu viện. Vô ích, chỉ có mình
nó trong phòng với ông cụ già quái gở. Không làm sao thoát được. Có lúc
ông cụ giận và khinh ba nó (thằng cha Ba Thê) như không cần biết nó là
ai, có lúc ông ta kể lể và công kích những người và việc nào ở đâu đứa
bé chưa nghe nói tới bao giờ.
Lúc nó mỏi chân và đói bụng, toan liều bỏ chạy ra
khỏi cửa không cần cáo biệt, thì ông cụ già đột nhiên ngẩng lên nhìn vào
mắt nó như đoán ra một ý định gì, ngừng nói, vẻ nghi ngờ. Thằng bé cũng
tự nhiên đâm ra lưỡng lự; hai con mắt của ông già có một lớp màng mỏng
đục mờ kéo phủ bên ngoài, trông khờ dại như những con mắt chết, những
con mắt giả, làm nó sợ hãi. Nhưng ngay lúc đó, ông già mở hộc bàn ra và
bắt đầu đếm bạc trao cho nó. Không có thư trả lời, không có phong bì,
ông cụ lấy ra tờ bạc nào đưa cho đứa bé tờ ấy, xong rồi ông ta bảo nó
xòe tất cả ra cho ông ta đếm lại trên tay nó: tất cả mười tờ. Món tiền
lớn hơn những món ủng hộ trước, của mọi người khác. Ông ta xô bảo nó về,
cứ cầm nguyên nắm bạc như thế trên tay.
Đứa bé bước ra khỏi nhà, nhảy xuống sân, bắt đầu
chạy. Nó nghe có tiếng cười rúc rích sau lưng, quay lại, trông thấy một
người đàn bà và đứa con gái nhỏ hơn nó vài tuổi ngồi trong phòng bên
cạnh phòng nó vừa bước ra, trông theo nó qua song cửa sổ. Mặt nó nóng
bừng lên, nó xấu hổ muốn chết. Chắc chắn hai người này đã theo dõi tất
cả cái thảm cảnh lố bịch của nó vừa rồi! Người ta xem nó như vừa đạp
phải vỏ chuối trượt ngã, cái vỏ chuối mà họ vẫn thấy nhưng không chịu
báo trước cho nó. Hai gương mặt đẹp đẽ sau cửa sổ có một vẻ nghịch ngợm
không độc ác. Thế mà trên mười tờ giấy bạc của ông cụ già kỳ lạ hình như
chỉ toàn vẽ có một khuôn mặt nhỏ bé, tóc cắt bông-bê trước buông xuống
quá nửa trán và phía sau ôm lấy cổ, khuôn mặt cười lộ những chiếc răng
trắng nhỏ xíu rất xinh.
Lần sau, lúc ba nó đưa tấm danh thiếp khác, Toàn cầm
ra khỏi nhà rồi vò nát, vùi kỹ dưới đống cát gần bến xe bờ sông. Nó về,
thưa lại rằng không có thư phúc đáp. Ông Ba Thê im lặng, đuổi nó đi chơi
bằng một giọng không có gì nghiêm khắc. Ông ta biết cách “lau chùi thất
bại” mà “đồng thời” giữ nguyên vẹn được thể thống.
Sau ba lần như thế, ông Ba Thê không sai đứa con trai
đầu đi đưa thư nữa. Đứa con gái bắt đầu tiếp xúc với đời. Lần đầu tiên
thấy Loan, em nó, cầm chiếc phong bì nhỏ ra đi, Toàn có những cảm tưởng
khó tả, nửa thương nửa mừng.
Một hôm có người khách tới chơi, nhắc cho ông Ba Thê
cái tin ông tham Hà qua đời, ông Ba Thê bất giác quay lại nhìn đứa con
trai đang có mặt bên cạnh. Tham Hà là ông cụ già ủng hộ mười đồng. Nhân
tiện, ông Ba Thê nói về tính nết của ông cụ: những năm sắp về hưu ông cụ
đã bắt đầu lẩm cẩm. Điều khiển công việc thú y trong một tỉnh, trước
mỗi lần đi công tác ra ngoài tỉnh lỵ ông cụ đều mở lịch coi ngày cẩn
thận. Và trở về bàn giấy ông cụ bận rộn về hai công việc: việc thứ nhất
là tính số tử vi. Tất cả những nhân viên dưới quyền ông cụ đều có một lá
số tử vi cho mình, cho vợ, và cho mỗi đứa con. Mỗi lần có một nhân viên
mang giấy khai sinh đứa con mới đẻ đến trình để xin tính thêm lương thì
ông cụ vội vã bấm chuông gọi vào, hỏi kỹ lại cái giờ sinh, rồi cắm cúi
chấm cho một lá số. Ông cơ quan trưởng có cảm tình nồng hậu đối với
những nhân viên có con mới ra đời. Chỉ có những đứa bé sơ sinh mới làm
cho ông ta vui mừng, còn những con bò giống Ấn-độ, những con gà quạ
Orpington, những con gà cú giống Plymouth Rock barré, những con gà
Leghorn… chúng sinh ra không có sao chiếu mệnh thì chú ý đến làm quái
gì. Bởi vậy mà số gà giống, heo giống, bò giống của chính phủ giao cho
ông trông nom đều gầy ốm còm cõi lắm.
Công việc thứ hai của ông tham Hà là đọc rất thong
thả các công văn cấp trên gửi xuống, như là bình văn cổ nhân, rồi suy
nghĩ, rồi thong thả vạch tìm tất cả những sở hở về cú pháp, từ ngữ, về
sự lý, để viết những công văn dài trình lên thượng cấp. Nổi tiếng nhất
là một trình văn dài tám trang của ông cụ, phản đối nha tổng giám đốc về
một chỉ thị ngăn ngừa bệnh dịch trâu bò viết kém rõ ràng.
Đến khi ông tham Hà tới tuổi hưu, nghỉ việc, cả
thượng cấp, cả gà và bò đều khoan khoái vui vẻ, duy những nhân viên có
vợ đang mang bầu thì còn lưu luyến không nguôi.
Nói xong chuyện ấy, ông Ba Thê cười lớn: “Đấy, ông
tham vẫn dở người như thế nhưng mà tốt bụng. Trẻ con có đứa không biết
tính ổng lẩn thẩn, lại đâm sợ hãi, oán ghét … Hì hì!”
Toàn giật mình liếc nhìn lên mặt ba nó rồi lẩn ra
ngoài vườn. Nhưng sự hối hận đuổi theo nó cho tới khi nó chết. Đứa bé
không ngờ ba nó hiểu hết từ sự xấu hổ của nó tại nhà ông tham Hà cho tới
việc vò nát các tấm danh thiếp sau đó. Nó thấy trong cái nhẫn nại tha
thứ của ba nó có sự thú nhận tội lỗi một cách tội nghiệp, nhục nhã.
(Rồi nó lại biết người đàn bà mặc cái áo in hình bông
cúc vàng trong bữa tiệc gia đình nọ là một cô đào hát đã từng dan díu
nhiều năm với ba nó).
Nó tự trách đã bỏ rơi ba nó một cách tàn nhẫn trong
cảnh khốn cùng. Mười mấy năm sau, khi nó ôm cây súng nằm ngoài mặt trận,
một mặc cảm tội lỗi mơ hồ vẫn chưa chịu tha thứ nó. Tội lỗi đối với
cha, và đối với đứa em gái.
Loan không tự ý bỏ công việc đưa thư. Gia đình nhận
thấy nó được việc hơn anh nó. Nhờ có đứa con gái, sự lân la tới các nhà
“se a-mi” có nhiều cách xếp đặt hơn. Có khi bà đội Ba Thê sai con đi
biếu một món quà, đôi ba món ăn khéo léo, như thế rồi mới đến lượt trao
một tấm danh thiếp.
Ông Ba Thê mến chuộng sự thanh nhã và bặt thiệp, cho
rằng những cái đó nâng cao phẩm cách con người lên nhiều lắm. Cho nên từ
ngày ông được nâng cao nhờ một đứa con gái ông hiểu câu thơ Trường hận
của Bạch Cư Dị là chí lý: thế gian lắm lúc phải trọng nữ hơn nam.
Còn Loan, mỗi ngày mỗi lớn, nó nhận thấy nhiều người
bạn hữu thân ái của ba nó đổi nết một cách ngộ nghĩnh. Có một ông bạn
làm việc ở sở Lục Lộ, góa vợ, có hai đứa con trai đang học trung học.
Nhà ông ta ở chỉ có một gian phía trước là người giúp việc phải tốn công
dọn quét: giữa nhà một bộ xa-lông, phía bên trái một cái giường rất
rộng, nệm rất dày, có ngọn đèn nhỏ bên cạnh để đọc sách ban đêm, có cái
quạt điện nhỏ để ngủ giấc trưa cho mát mẻ, phía bên phải là một chiếc
đi-văng, người ngồi trên đi văng ngẩng lên sẽ thấy trước mặt mình một
cây đàn tranh thiếu mất mấy sợi dây. Ông bạn hữu ăn ở phòng đó, ngủ ở
đó, tiếp khách cũng ở đó. Tòa nhà còn rộng, phía sau có tới ba phòng
nữa, rồi mới đến bếp.
Ông bạn hữu ít có dịp đi sâu về phía sau gian phòng
của mình. Nước rửa mặt thì người giúp việc bưng trong cái thau lên để ở
ngoài cửa sổ. Cơm thì dọn riêng cho ông một phần, đậy lồng bàn lại, có
sẵn một chai bia bên cạnh; bao giờ ông về nhà, ông ngồi ăn ngay ở ghế
xa-lông. Bữa nào ông đã ăn uống với bạn bè rồi thì gọi người giúp việc
lên cất mâm cơm đi. Còn con cái, chúng có thể ăn trước hoặc ăn sau, tùy
sở thích, ông không đòi chúng nó trình bày về chương trình sinh hoạt cho
ông bao giờ. Cả những việc tống các vật thừa trong cơ thể ra sau khi
tiêu hóa, sự tình cờ cũng xếp đặt cho ông thỏa mãn ở sở hay ở nhà bạn
bè, cho nên ông ít khi biết đến cầu tiêu nhà.
Tuy vậy, thỉnh thoảng cũng có lần ông lạc ra ngoài
thường lệ, đi tiểu tiện ở cầu tiêu nhà mình. Lúc trở vào, vừa đi vừa cúi
đầu ngẫm nghĩ xa vắng, vừa cài mấy hột nút quần, ông bước lầm vào phòng
ngủ của hai đứa con trong lúc chúng nó, mỗi đứa trùm lên đầu mỗi chiếc
mền, đang quờ quạng tìm bắt nhau. Một đứa tông phải vào chân ông, khoát
mền ra, kinh hãi. Ông ta càu nhàu mấy tiếng trong mồm, bỏ ngang mẩu tư
tưởng đang nghiền ngẫm trong đầu, ngước mắt nhìn lên một cái, rồi quay
đầu trở ra. Sau đó, ông ta có gọi lũ con lên xem qua mấy quyển sách vở
của chúng nó, cảnh cáo vài lời, gây ra một xúc động sâu xa trong cuộc
sống của gia đình.
Không mấy thuở đi xa về phía sau nên ông lạc lối như
thế ngay trong nhà mình. Vì lạc lối ông lại càng cẩn thận, ít khi đi về
phía sau. Cách sinh hoạt ấy làm cho đối với hai đứa con trai và người
giúp việc ông ta có cái nghiêm khắc uy nghi khả kính của những bậc siêu
phàm, cách xa cuộc sống tầm thường của thế nhân muôn vạn tầng lớp. Ông
ta như một nhà bác học, một bậc thông thái, một nhà hiền triết sống lẻ
loi bên cạnh những người thường.
Nhà hiền triết lâu lâu lại có chuyến kéo vài người
bạn về nhà, dọn đồ nhắm và rượu, ăn uống nói cười tục tĩu đến nỗi lũ con
và người giúp việc núp phía sau bức rèm nghe trộm phải bấm nhau cười
rúc rích. Những lúc ấy nét mặt ông ta tươi sáng hẳn lên. Rồi cả bọn kéo
nhau đi tới khuya. Hôm sau trở về, ông ta lại nghiêm khắc và tối sầm như
cũ. Những ngày hôm qua bị thời gian chôn xóa đi một cách tàn nhẫn lạ!
Phía sau gian phòng riêng của ông bạn hữu thân ái,
hai đứa con trai và một người thanh niên ở giúp việc sống trong sự hỗn
loạn thường xuyên, trong tự do và bình đẳng tuyệt đối. Một hôm Loan đến
nhà không gặp ông bạn hữu sở Lục Lộ, nó ngần ngại không dám một mình
ngồi chờ ở gian phòng sang trọng phía trước, bèn bước ra phòng sau, ngồi
trên một cái giường chỉ trơ có vạt không (chiếc chiếu thì mấy cậu con
trai đã kéo trải trên nền xi-măng nằm cho mát). Vừa đặt đít lên vạt
giường, đứa con gái bỗng nghe phát ra ngay ở phía dưới những tiếng kêu
quác quác lạ lùng chưa từng thấy phát ra từ chỗ hạ bộ của bất cứ người
con gái nào. Nó hoảng hốt đứng phắt dậy; tức thì có tiếng dậm lạch bạch,
rồi hai con vịt từ dưới giường chui ra, quất quơ những cái cổ vô duyên.
Đứa con gái liền hiểu duyên cớ vì đâu mà ở chỗ nó ngồi phảng phất một
mùi tanh thối khó chịu.
Từ gian phòng khách đường bệ cho đến cái cổ vịt dưới vạt giường, tất cả đều tăng thêm sự sợ hãi rụt rè của đứa con gái.
Khi người bạn thân ái của ông Ba Thê về nhà, ông ta
cầm lấy tấm danh thiếp, liếc qua, rồi ngồi vào mâm cơm, mở bia ra, uống
và ăn chăm chỉ như không hề thấy có đứa con gái nào trong phòng. Hết nửa
ly bia và hết một chén cơm, ông ta bớt hào hứng, ăn uống chậm lại,
ngẩng mặt lên trông ra đường, nhìn vẩn vơ, nhàn hạ lơ đãng, đuổi theo
vài ý nghĩ nhẹ nhàng. Chợt ông ta dừng mắt trên đứa con gái, lộ một vẻ
ngạc nhiên thích thú. Loan cố gắng phiên dịch ý nghĩa của cái nhìn ấy ra
thành ngôn ngữ thì nó có cái nghĩa đại khái rằng: “Hầy! con cháu thế mà
đã lớn”. Thế thì cũng chẳng có gì đáng lấy làm lạ. Nó cúi mắt trông
xuống đất. Phản ứng của người bạn hữu thân ái sở Lục Lộ là bắt chước
theo nó: ông ta nhìn xuống tấm danh thiếp của ông Ba Thê Đồng Thời hãy
còn vứt ngửa trên vành mâm. Lần này thì ông ta đọc và hiểu ngay rất
nhanh ý nghĩa trong thư. Ông ta bắt đầu hỏi han về đời sống của ông Ba
Thê, ông ta chép miệng mấy cái, tiếc một cuộc đời dở dang. Rồi khi người
giúp việc bưng mâm cơm xong, ông ta bèn nhờ Loan khép kín tất cả các
cửa sổ và cửa lớn cho bớt chói nắng.
Ngày ấy Loan chưa tới mười sáu tuổi, nhưng linh tính
con gái kêu gọi vu vơ, báo cho nó biết rằng đạo đức không thích ở lâu
trong những gian phòng thiếu ánh sáng. Nó tìm lời xin cáo lui, nhưng
người “se a-mi” của ba nó cũng có thì giờ kịp đề nghị biếu nó ít tiền để
tiêu riêng. Nó vùng vằng quay đi, nhưng ông ta đã nhanh nhẹn vỗ vào má
nó một cái nhẹ, như một người lớn vỗ má đứa cháu bé, và cười hề hề. Lại
phiên dịch cái cười ấy thì lộ ra cái nghĩa đại khái: “Con cháu thế mà
còn khờ! Thôi được! rồi nó sẽ khôn dần”. Một ý nghĩa vừa khoan hồng vừa
hy vọng dễ dãi.
Từ đó về sau, mỗi lần gặp nó, ngay cả trước mặt ba má
nó, người bạn hữu thân ái sở Lục Lộ cũng vừa cười hề hề vừa nhìn vào
mặt nó với một vẻ giễu cợt khoan hồng như đùa một tí với con cháu hãy
còn khờ. Thái độ đó làm cho nó mặc dù nóng cả mặt mà vẫn cứ ngờ vực
những lời kêu gọi vu vơ của linh tính.
Tuy vậy người “se a-mi” sở Lục Lộ chưa phải là người
thô lỗ. Loan còn gặp những trường hợp khó khăn hơn mà không tiện nói ra
với ai: anh nó và em nó đều là con trai, cha mẹ nó thì lâu lắm không hay
cân nhắc bạn hữu về phương diện đạo đức nữa. Vả lại đứa con gái biết
rằng công việc của mình là công việc nuôi sống cả nhà, không thể nghĩ
đến một sự chống đối. Lâu ngày nó khôn ngoan, già dặn, đối với những lời
chọc ghẹo nó không đỏ mặt bối rối, nó cũng có những câu ỡm ờ hư hư thực
thực, và không sợ kẻ chai lì một cách quá đáng.
Nhưng một hôm nó gặp một người thật liều lĩnh. Không
biết nó về tới nhà thì sự xúc động còn để dấu vết gì trên nét mặt mà lần
sau, lúc ông Ba Thê sai nó mang thư đi một nhà khác, thì Toàn thình
lình lên tiếng can thiệp:
— Con Loan đừng đi nữa.
Toàn là một người con trai ít lời, hơi cộc cằn. Anh
ta không hay nói ý kiến của mình cho ai biết, cho nên nhiều hành động
của anh ta có vẻ bất ngờ. Trong gia đình cảm thấy phía sau các quyết
định bướng bỉnh của anh ta có những lý do quan trọng, nên thường làm
theo ý anh ta trước khi tìm hiểu.
Ông Ba Thê nhìn lên mặt đứa con trai dò xét rất
nhanh, rồi bỏ lơ câu chuyện đưa thư. Bà Ba Thê yên lặng như không hề
biết có điều gì xảy ra. Chuyện thư từ đình lại ngót hai tháng trời,
trong một không khí ngờ vực mập mờ giữa những người trong gia đình. Mỗi
người đoán một điều mà không ai muốn đem ra để đối chiếu với nhau. Thế
rồi một bữa Toàn và Loan vắng nhà, ông Ba Thê lấy cặp lấy thiếp ra. Bà
Ba Thê chờ cho chồng viết xong, bỏ vào phong bì, bà lên tiếng dịu dàng:
“Phong! Ra ba bảo đi con!” Bắt đầu từ hôm ấy đến lượt đứa con thứ ba
tiếp xúc với những người “se a-mi”.
Còn Loan, chẳng bao giờ cô ta dám dò hỏi người anh đã biết gì về mình.
Như vậy về cuộc đời tâm tình và nết na của nàng, sự
hiểu biết của người thứ nhất còn có chỗ đáng ngờ. Tôi có cái may vừa
phải, là làm kẻ hiểu biết thứ hai mà thôi.
Tháng ba năm 1953, một đêm trước trận phục kích trên đèo Mang Giang, tôi nằm bên cạnh Toàn ở một nhà đồng bào dưới chân đèo.
Chúng tôi kéo đến làng khi trời chạng vạng tối, mở
cơm ra ăn, họp, sinh hoạt, rồi dồn nhau lại ngủ ở ba nhà gần sát nhau. Ở
miền sơn cước nhà cửa thưa thớt, nếu muốn có chỗ rộng rãi chúng tôi
phân tán ra quá rải rác, không tiện. Vì thế, chỉ chọn ba nhà. Phần nhiều
chúng tôi phải ngủ giữa trời, ở ngoài sân và vườn.
Toàn và tôi mượn được chiếc chiếu trải lên mớ rơm nằm
khá êm. Tôi đánh một giấc đến quá nửa đêm, bỗng giật mình thức dậy. Có
tiếng Toàn rọt rẹt cựa quậy bên cạnh. Tôi trở mình thấy anh ta bò lồm
cồm, hỏi:
— Cậu làm gì vậy?
— Lạnh tổ mẹ. Tìm cái áo mặc thêm vào cho ấm.
Tôi tán thành:
— Dễ ghét lạ. Mới xế chiều còn nóng hầm hầm như nung, tối đến khí đá bốc ra đã lạnh ngay.
Tôi rút hai tay đang thu vào giữa cặp đùi ra, vuốt
lên má: má và tai lạnh ngắt, lại ươn ướt hơi sương. Sờ tay lên chiếu,
chiếu cũng ướt. Tôi ngồi dậy, nhân tiện ra ngoài rào đi tiểu rồi trở vào
bắt chước Toàn mở ba-lô lục tìm cái áo trấn thủ mặc thêm.
Hai đứa nằm xuống bên nhau một lúc không nói gì. Tôi
mỗi lúc mỗi thấy tỉnh táo, mở mắt yên lặng nhìn lên vòm trời đen sâu
thẳm, chi chít những sao nhấp nhánh. Hồi lâu tôi quay nghiêng đầu và để ý
đến ngọn lửa cháy núi ở phía tây. Miền quê tôi có nhiều núi, mỗi năm
vào tiết trời nắng thế nào cũng có nơi bị cháy núi, nhà nông cho rằng
năm nào cháy núi to thì năm ấy được mùa, bởi vì tro than trên núi theo
nước chảy xuống ruộng thành chất phân bón tốt. Hồi tôi còn nhỏ, mẹ
thường bồng tôi chỉ cho coi ngọn lửa đỏ di động trên những mỏm núi đen
xa thẳm trong đêm mênh mông, kể những chuyện dị thường để dọa tôi những
lúc tôi làm nũng. Và trí tưởng tượng của tôi vẽ thêm ra những điều ly kỳ
xung quanh ngọn lửa huyền bí ấy. Mãi về sau này, mỗi lần trông thấy núi
cháy — nhất là về khuya — tôi vẫn còn xôn xao bồi hồi nhớ về xóm làng
và thời thơ ấu. Tôi nằm bên cạnh Toàn, theo dõi ánh lửa, nghĩ đến ngày
xưa, nghĩ đến trận đánh ngày mai…
Bỗng một cái mo cau tách khỏi thân cây, rụng xuống
kêu một tiếng bộp. Tôi giật mình ngoảnh đầu nhìn lại, trông lòng mo phơi
ngửa trắng lờ mờ. Thình lình Toàn lên tiếng nói:
— Nhớ tổ mẹ!
Rồi anh ta thở ra một cái mạnh, xoay mình lại. Giọng
Toàn tỉnh táo, ráo hoảnh: thì ra anh vẫn nằm thức từ lâu. Tôi vừa trở
mình, anh ta liền hỏi:
— Cậu có nhớ “đứa” nào dưới đồng bằng không?
Tôi làm sao nói được! May mà Toàn chỉ hỏi qua loa rồì
xoắn suýt trở về chuyện riêng của mình, không chờ trả lời. Anh ta lay
vai tôi, nói:
— Mình lạ quá. Lúc ở nhà cứ như lạnh nhạt đối với vợ
con, đôi khi muốn tỏ một cảm tình thì lại ngượng, đáng lẽ nựng nịu thì
chỉ thành ra chế giễu. Đáng lẽ ôm hôn con chẳng hạn thì mình lại chọc
ghẹo nó. Mình cũng hay giễu vợ, về kiểu áo cắt xấu, bức hình treo vụng,
dĩa xào không ngon… Chế giễu thành ra một hình thức âu yếm. Vợ con mình
có vẻ không bằng lòng như thế. Cậu nghĩ thế nào?
Tôi chưa kịp nghĩ thế nào cả, anh ta đã tiếp:
— Chế giễu chán rồi lại có lúc phát cáu lên gắt gỏng.
Thế nhưng đi khỏi nhà, thường thường không cần lâu, chỉ vừa mamg ba-lô
lên vai đi được chừng non cây số là mình lại đã hối hận, thương vợ
thương con, tiếc sao lúc ở nhà không biết diụ dàng hơn, khéo léo hơn.
Nhất là trước những trận đánh, mình càng ân hận. Mình thấy lại rõ ràng
cái mặt bé tí tẹo của thằng con những khi nó khóc, nước mắt nước mũi
tràn trề, trông thương quá… Dạo nọ đánh đồn Thượng An xong mình được
nghỉ, ghé về nhà; mụ vợ dành dụm bấy lâu may được cái áo cụt lụa, bữa ấy
lấy ra định mặc, mới thấy chuột khoét cho một lỗ to bằng cái miệng chén
ở nách. “En” cầm cái áo kêu mình, đưa lên cho coi, miệng méo xệch, khóc
như đứa trẻ. Lúc đó mình nhe răng cười, pha trò chọc cho “en” cười
theo. Đêm nay tự nhiên mình nằm nhớ lại nét mặt khổ sở ngây thơ ấy. “En”
biết đâu, cứ cho mình là khô khan. Ngày mai, đánh xong, nếu lại rút
xuống đồng bằng thì thế nào mình cũng… hì hì.
Toàn vất cả hai chân gác lên người tôi, thân mật, sung sướng. Tôi hỏi:
— Cháu Hoàn nay được mấy tuổi rồi?
— Hăm ba tháng.
— Liệu moi óc tìm lý do mà xin về cho nhanh. Cháu nó chờ em đã trót năm trời rồi, sốt ruột lắm đấy.
Toàn lại cười hì hì. Chúng tôi chợt im lặng, lắng
nghe tiếng cánh nặng nề của một con dũ dĩ bay ngang qua đâu đó ở bên
ngoài khoảng vườn nhà trọ. Nó đậu lại và kêu hù hì, hù hì. Kế đó, có
tiếng mang tác “bép bép” về phía trên núi.
Tôi không biết Toàn nghĩ gì trong khi yên lặng. Anh
ta ít nói, những lời tâm sự bất thường vừa rồi đã là nhiều rồi, tôi
tưởng thế là hết. Không ngờ khi tôi vừa hỏi:
— Ngủ chưa?
Anh ta liền sốt sắng:
— Cậu buồn ngủ rồi à?
— Không.
— Cậu biết vợ mình chứ?
— Sao lại không? Cháu cụ tham Hà chứ ai. Hồi mình học lớp nhất ở Nguyễn Trường Tộ thì vợ cậu học lớp tư.
Toàn lại cười bâng quơ hì hì, vẻ hiền lành.
Rồi anh ta kể lại cho tôi câu chuyện đem danh thiếp
tới nhà ông tham Hà, bị giữ lại nghe vớ vẩn suốt buổi, lúc ra về vừa đi
vừa xấu hổ vì tiếng cười rúc rích nghịch ngợm của cô con gái ở trong
buồng, câu chuyện đã khiến anh ta nhất định chống lại cha.
Tôi tò mò hỏi:
— Như thế làm sao cô con gái ấy lại thành ra…
— À, thế mới ngộ. Lâu lắm lâu lắm về sau mình vẫn còn
nhớ mớ tóc bông-bê rũ xuống cái cổ trắng nõn, càng oán giận càng nhớ,
mới lạ chứ. Rồi không gặp nhau nhiều năm. “En” lớn lên, tới khi đối diện
thì nhìn không ra nữa! Mình chỉ ghi nhớ hình ảnh cô bé hồi nhỏ mà tới
năm mình hăm mốt “en” mười tám rồi, đối chiếu với cái người trong ký ức
có còn dính líu gì nữa đâu. Hôm ấy mình về Qui Nhơn, về với một tiểu đội
công binh để đặt mìn, ở ngoài bãi bể và trong mấy tòa nhà gạch mà chủ
đã tản cư rồi. Buổi trưa, nghỉ việc, mình ra đứng phía bờ sông, chỗ
trước ngôi chùa Triều Châu. Chỗ đó có một cây bàng to, hồi mình còn đi
học thấy thợ cưa thường chở gỗ từng súc lớn về vất đó để làm việc cho
mát. Gặp “en” ngay tại chỗ ấy. Mình đang nói chuyện với một người chệt
bán thịt bò khô bên gốc bàng thì “en” đến…
— Gia đình cụ tham Hà không phải tản cư à?
— Mình cũng lấy làm lạ chỗ đó. Ở Qui Nhơn bấy giờ chỉ
có toàn Hoa kiều, còn người Việt thì đi hết. Ai còn ở lại bị kiểm soát
khổ sở lắm, mỗi lần đi chợ mua gạo mua thịt mỗi bị kiểm soát từng li
tùng tí, khó khăn hết sức. Mình hỏi “en” tại sao ở lại Qui Nhơn. “En”
trả lời vì gia đình không còn ai là đàn ông, tản cư không biết làm ăn ra
sao, phải ở lại làm công cho mấy người Tàu quen biết để lấy cái sống.
Dò hỏi thêm mấy câu nữa, mình bật ngửa, biết rằng đang nói chuyện với
cháu gái cụ tham Hà ngày trước. Tự nhiên hơi nóng bốc lên mặt mình đỏ
bừng. “En” liếc mắt để ý, ngờ vực. Trong lúc hai đứa ngừng nói, thì
người chệt xắp xắp cái kéo to tướng trong tay để rao hàng, nét mặt thản
nhiên vô tình… Rồi mình cố gắng mỉm cười, nhắc lại câu chuyện xảy ra hồi
còn nhỏ, tới chỗ cuối mình lúng túng hỏi: “Cô còn nhớ chuyện đó không?”
Hai mắt “en” chợt bừng lên một tia sáng mừng rỡ và ranh mãnh. “En” ngó
nhanh về phía người chệt bán hàng sắp sửa bước đi, rồi nhìn mình nhoẻn
cười: “Không nhớ!” Mình bạo dạn nói: “Chuyện đó làm tôi oán cô mãi”.
“En” nói: “Bây giờ còn oán nữa không?” Tôi vội vàng đáp: “Còn chứ”.
— Trông cậu hiền lành ít mồm mép, thế mà lâm sự cũng biết xoay trở thế à?
Toàn cười hì hì hiền lành. Tôi đưa tay lên vuốt mặt
một lần nữa: Sương lại ướt mặt nữa rồi, tôi kéo mép chăn lên chùi. Có
một tiếng gì kêu đánh bộp rất nhẹ nhàng bên cạnh, không biết là bông cau
rụng hay là một giọt sương ở đuôi lá rơi xuống đập lên mo cau nằm phơi
ngửa cạnh gốc cây.
Câu chuyện tình của Toàn khiến tôi bồi hồi yên lặng
nằm nhớ Loan. Toàn chuyển về đơn vị pháo binh đã ngót hai năm, anh đã dự
nhiều trận đánh lớn, còn tôi thì nhập ngũ chưa bao lâu, một trận phục
kích nhỏ cũng làm tôi suy nghĩ. Tôi hăng hái ra đi lính vì lời nói khích
của một người con gái mau miệng, bây giờ tôi nằm đây nhớ về xóm làng,
còn nàng, nàng làm gì ở đâu? Nếu người nằm bên cạnh tôi không phải là
anh ruột nàng thì tôi đã không giữ nổi một câu hỏi thăm tò mò.
Nhưng Toàn nói tiếp:
— Chỉ nói với nhau bấy nhiêu, nhưng hình như cái tình
hai đứa mến nhau nó đã âm thầm tích lũy tự lúc nào, chỉ chực khơi động
đến là phát ra ngay. Trưa hôm ấy, mình trông thấy cái gì cũng rực rỡ huy
hoàng. Nước sông sáng láy nháy lóng la lóng lánh reo vui. Một người
chệt nữa bán trái cây đạp chiếc xe đi ngang qua, rao lố xố lố xố một hơi
dài kỳ quặc. Mình tưởng như hai đứa đã là nhân tình rồi, yêu thương
tràn ngập tâm hồn. Người chệt đi qua, mình cũng bắt chước đi theo. Cả
buổi trưa mình đi ngang đi dọc, gần hết các con đường của Qui Nhơn: một
con còng bị bánh xe cán nát trên đường thịt hãy còn tươi, dây antigone
bò tràn trên vỉa hè, leo lên các cây keo tây, những cây dền gai mọc là
sà trong các khoảnh vườn hoang, hoa đỏ nở giữa những gạch bể ngói bể của
các ngôi nhà bị phá hoại, tiếng cát sạn kêu lụp bụp dưới bánh xe đạp
đang cưỡi và mùi cà-phê phảng phất đuổi theo mình qua hai ba con đường
phố… tất cả đều tăng thêm cảm tưởng yêu đời vui sống. Uống một cốc nước
lạnh, nghe tiếng cưởng sáo kêu lớn trên mái ngói, trông những con sẻ sà
xuống giữa đường… mình sung sướng chơi vơi. Cả buổi chiều, mình làm việc
đầy hứng thú, vừa đặt những trái mìn, cài những quả lựu đạn để chực gạt
giết người, mình vừa vui vẻ huýt sáo luôn mồm. Chiều, làm việc xong,
mình lại đi lang thang trong thành phố, mình không thích rủ ai đi theo
vì không muốn bận trí óc đối đáp chuyện trò, để được tự do nghĩ về “en”
bất cứ lúc nào mình muốn. Nhưng gặp ai mình cũng vồn vã chào hỏi, trái
với thường ngày mình hay tránh mặt những người quen biết, gặp những cái
không đáng chú ý mình cũng dừng lại tò mò xem xét, như thể hôm đó, với
một cái nhìn khoan hồng, mình khám phá được khía cạnh mới mẻ của sự vật
mà thường ngày không biết đến. Có lần mình trèo lên một tòa lầu bị đập
phá lở dở, ra ngoài sân thượng, đứng nhìn bao quát quang cảnh kỳ lạ của
một thành phố mà nhà xi-măng, đường trải nhựa hãy còn ngang dọc ngay
ngắn cố giữ kỹ luật cứng rắn của một sinh hoạt xã hội văn minh, nhưng
cây cỏ hỗn độn đã muốn tràn tới lập lại cái hỗn độn tự do của rừng rú.
Gió thổi pheo pheo trên lầu cao, một mình mình chót vót giữa khoảng cao
vắng vẻ, tự nhiên mình muốn hát lên nghêu ngao. Trông những viên gạch bể
nhểu loang một vệt đỏ lòm chảy dài xuống bờ tường, trông qua những cánh
cửa long bản lề khép không che kín một vài đồ đạc trong nhà lỏng chỏng,
bừa bãi… mình lấy làm khoái thích được tự do rộng rãi giữa sự hoang
vắng. Tối đến, trong giấc ngủ chiêm bao thấy “en” ẩn hiện nhiều lần,
mình có cảm tưởng giấc ngủ của mình mỏng lắm, nhiều khi thoáng thấy
“en”, giật mình tỉnh dậy, sắp kêu tên “en” thành tiếng. Hình ảnh của
“en” lảng vảng như một thứ hương thơm phảng phất xung quanh giấc ngủ nhẹ
nhàng. Mờ sáng mình đã thức dậy và thao thức mãi, có một lúc không cầm
giữ được sự vui sướng, mình nhỏm dậy, lấy tay nắm vào chót mũi của thằng
bạn nằm bên, kéo một cái, nó giật mình vùng dậy, mình nhăn răng cười
không biết cắt nghĩa ra sao…
— Cậu chưa nói rồi làm sao…
— Mà thành vợ chồng?
— Nhưng mà mình đã thấy rồi. Mê như vậy thì muốn thành gì cũng thành.
Toàn khoát tấm “ra” ngồi hẳn dậy, vừa cười hì hì vừa nói:
— Hút điếu thuốc đã, lạt miệng lắm, không thèm tiếc
giấc ngủ nữa. Ờ, mà còn chỉ có nửa giờ, ngủ nghiếc gì được nữa. Cậu hút
không?
Tôi vừa lồm cồm ngồi dậy vừa nói:
— Không. Cho mình mượn ve dầu Nhị thiên đường xoa tí cho ấm.
Toàn ngồi hút thuốc, khoanh tay ôm gối lặng lẽ. Đêm
khuya im vắng, thỉnh thoảng có một tiếng bộp nhỏ, không biết là sương
rơi trong lá hay là hoa cau rụng bên cạnh. Tôi muốn hỏi về Loan, mon men
bắt đầu:
— Độ này cậu có được thư nhà không? Chú Phong làm gì?
— Nó vào tù.
— Ủa?
— Trong trận Tây đổ bộ lên Qui Nhơn, nó lẻn về, lấy
lọ bôi mặt giả làm lính Tây đen đi cướp giật lặt vặt. Tây rút lui, bị
phác giác, bị tù. Cái thằng không thể nói được…
— Giả Tây làm sao? chú Phong thấp bé loắt choắt như thế, ai thèm lầm?
Toàn không trả lời, ngồi yên lặng buồn rầu. Câu
chuyện mới mở về hướng ấy đã gặp việc chẳng lành, tôi bỏ ý định thăm hỏi
về Loan. Một lúc sau, tôi nằm xuống kéo chăn lên cổ, co người lại cho
ấm, im lìm nhìn theo ngọn lửa đỏ bí mật thao thức di động trên ngọn núi
xa đen thẳm. Toàn vẫn ngồi phía dưới chân, hút thuốc, một mình nghe
ngóng tất cả cái mênh mông của rừng núi.
Tôi nhắm mắt lúc nào không hay, mơ thấy Loan một tay
sờ chót mũi tôi, một tay múa vẫy theo thân hình uốn éo, cánh tay của
Loan mỗi lúc mỗi dài ra và mềm oặt như con rắn nõn nà. Tôi trông theo mê
tơi và kinh ngạc, nhưng bàn tay bịt lấy chót mũi mỗi lúc một chặt thêm
làm tôi sắp sửa bị nghẹt. Tôi toan đưa tay lên gạt Loan ra thì Toàn đập
tôi, kêu dậy. Tôi nhận thấy một chéo chăn đã phủ lấp lên mũi mình.
Hai giờ sáng rồi. Đơn vị chúng tôi bắt đầu đi. Phải
hành quân từ lúc ấy là để tránh sự quan sát của địch vì chúng tôi định
đi tắt qua những vùng núi trọc.
Trong khi đi đường chúng tôi lạc nhau. Tôi đi trước
xa hàng trăm thước, Toàn ở sau khệ nệ vác một khẩu súng máy. Đầu óc tôi
hãy còn nặng nề vất vưởng, những lúc đứng lại chờ đợi kẻ đi trước dò tìm
chỗ lội qua một dòng suối tôi muốn được ngồi sụp xuống tiếp tục ngủ.
Trong lúc bước đều đều theo hàng ngũ có lúc tôi loáng thoáng nhớ lại một
góc vườn ở nhà, một cái hộp bằng giấy đựng thư từ cất dưới đáy rương
v.v…
Tôi không biết Toàn nghĩ gì về lúc ấy.
Đến giữa đèo, bố trí xong, mới hay tôi lại ở gần bên Toàn.
Mỗi đứa ngồi trong một hầm cá nhân đào xiêng vào sườn
núi bên đường. Phía trước mặt, bên kia đường là thung lũng sâu thăm
thẳm. Núi xanh mờ trên những ngọn cây cam xe, cây mằng lăng, trên lá
xanh của các thứ dây bã mía, dây chôm chôm, dây dủ dẻ, dây chùm bìa… phủ
trùm lên cây núi mênh mông. Chúng tôi định đánh hất địch xuống phía đó.
Sau lưng chúng tôi là núi dựng đứng, lá khô rụng
xuống chất thành lớp dày trên mặt đất. Muốn trèo ngược lên, bước chân
giậm lên lá cứ chùi xuống, tay phải bấm kỹ vào các gốc cây, rễ cây. Tôi
nghĩ thầm nếu trận phục kích bị thất bại bất ngờ thì chuyện chạy lui lên
núi thật là khó khăn. Tôi nhìn về phía Toàn, tìm gặp cặp mắt anh ta.
Anh ta nhìn lại, thân thiện nhưng khó hiểu. Toàn đã trở lại ít nói như
thường ngày.
Chúng tôi chờ đến quá muời giờ rưỡi. Tai nghe thoang
thoáng như có tiếng động cơ nổ xa xa, rồi tắt mất. Sự chờ đợi bắt đầu
hồi hộp trong không khí căng thẳng. Có lệnh chuẩn bị sẵn sàng. Ba phút,
năm phút… vẫn chưa thấy gì. Tôi bẻ một cọng cỏ đuôi chồn trước mặt, tước
ra, đưa lên miệng nhăm nhăm: ban đầu một vị ngọt lạnh thấm vào đầu
lưỡi, rồi sau thấy lạt xạch. Tôi tiếp tục cắn đứt từng khúc cỏ đuôi chồn
lụp bụp trong mồm mà không hay.
Đã bao nhiêu lần lâm trận, tôi bị bắn và bắn trả lại
rất dữ, sau đó tôi dò ý tứ bạn đồng đội thì xem chừng dư luận chung
không coi tôi có gì là khác với những chiến sĩ khác. Nhưng trong những
lúc chờ đợi, tất cả những lúc chờ đợi, tôi một mình ôm báng súng ngẫm
nghĩ, tự xét quả tình không có máu anh hùng.
Lệnh chuyển đi đã lâu quá mà vẫn không thấy gì. Tinh
thần căng thẳng khó chịu. Xung quanh im lặng đè xuống khó thở. Một con
kỳ nhông chạy lẹt xẹt trên lá khô, dừng lại nghểnh cao đầu, nhìn bậy một
chút rồi lủi đi lẹt xẹt. Một con chích chòe ở đâu vụt đến đậu lên nhành
cây trên đầu chúng tôi. Tôi nhìn con chích chòe, mắt khờ dại như chưa
từng thấy thứ chim đó lần nào.
Thình lình tiếng động cơ lại nổi lên rõ rệt, rồi lớn lên rất nhanh. Tôi nuốt nước bọt đánh ực, quay mặt lại phía Toàn gọi nhỏ:
— Toàn!
rồi nhoẻn miệng cười. Anh ta ngoảnh lại, tự nhiên
cũng nhoẻn miệng cười. Cái cười như có vẻ bảo nhau: “Toàn đấy chứ! Vui
vẻ nhỉ! — Ừ, mình đây! Vui vẻ?” Cả hai đều không hiểu lý do vì sao lại
bảo với nhau như thế. Tôi cảm thấy cái cười chết lạnh trên môi của mình.
Rồi đoàn xe của địch rầm rầm kéo qua. Quả mìn đầu
tiên nổ lớn. Con chích chòe giật mình cất cánh bay vụt đi, lao mình
xuống phía thung lũng trước mặt xanh thăm thẳm. Cuộc đánh nhau bắt đầu.
Tôi bắn hăng và đến lúc thì cũng vừa hét vừa xung phong hăng như những
người chiến sĩ khác.
Cuộc đánh kéo dài quá thời gian dự tính. Những người
lính Tây đen kháng cự can đảm, liều lĩnh lạ thường. Có một lúc, một
chiếc phi cơ bay lảng trên không rất cao, không biết có hay biết gì về
chiến cuộc ở dưới này không. Chúng tôi nóng lòng kết thúc. Và rốt cuộc
chúng tôi cũng toàn thắng.
Không có gì buộc tôi trở lại vị trí cũ, nhưng tình cờ
đi ngang qua chỗ hầm đã nằm chờ đợi trước lúc đánh nhau, tự nhiên tôi
quay đầu nhìn, và tìm lại được cả chỗ hầm của Toàn. Anh ta vẫn còn nằm
đó, toàn thân chỉ thiếu mất một nửa cái đầu. Một viên đạn đại bác đã
tung cả cái chân khẩu Browning nặng bảy ký-lô vào đầu anh ta; cả đầu cả
chân súng đều văng xa.
Tôi đứng bàng hoàng nhìn cái thây nằm sấp, trong đầu
không kịp có một ý nghĩ gì. Lúc tôi ngẩng lên, bên cạnh tôi, giữa cảnh
lộn xộn, một người tù binh gầy lêu nghêu, cao hơn tôi cái đầu, cũng đang
để mắt lướt trên cái thây của Toàn, dửng dưng. Mắt y gặp mắt tôi, y
ngập ngừng, lo lắng, nhìn xuống cái thây một lần nữa như tìm xem có phải
là trách nhiệm của mình không, rồi quay đi.
Chúng tôi rút lui qua những khu rừng dầu.
Trời nóng hầm, không gió. Khí oi bức và sự mệt mỏi
làm cho bước chân thêm nặng nề. Đi chừng quá một giờ đồng hồ thì hết
những câu chuyện ồn ào, tiếng chân giậm trên lá khô nghe rõ rộp rộp. Thứ
lá dầu to chồng lên nhiều lớp gây một cảm giác êm êm buồn buồn dưới
chân.
Cứ thế chúng tôi đi từ giờ này qua giờ khác, thỉnh
thoảng né tránh cho một chiếc võng tải thương do dân công khiêng đi vượt
tới trước. Mắt người lính đang bước đi lướt trên mặt người lính nằm
trong võng không kịp biểu lộ gì. Có người bạn nằm nhắm mắt, có người còn
đủ sức mở mắt nhìn trả lại chúng tôi, cũng thành ra lạnh lùng thản
nhiên một cách buồn thảm.
Cái gì tăng thêm sự bực bội của người đi rừng buổi
trưa nhiều nhất có lẽ là những tiếng kêu làm cho tê mê trí óc. Đuổi theo
chúng tôi lúc nào cũng có tiếng ve ran lên, dồn tới từng đợt, từng đợt
gấp rồi xuôi một hơi dài, như người đạp chiếc xe thật nhanh bỗng ngừng
đạp thình lình, để cho xe chạy rè rè theo trớn. Những con đa đa kêu “cúc
cúc cúc”. Thỉnh thoảng một con cuốc vùng kêu ồn lên như hốt hoảng.
Trong khung cảnh hừng hực ấy, trong sự tê mê mệt mỏi
ấy, tôi vừa đi vừa nghĩ loáng thoáng về ông Ba Thê Đồng Thời, về tình
yêu và nét mặt rạng rỡ của Loan, về cái thây nằm sấp của Toàn. Cái tang
bất ngờ đó làm cho tôi tự thấy càng thêm gần gũi gia đình ông Ba Thê. Ve
dầu Nhị thiên đường của Toàn hãy còn nằm trong túi tôi. Ý nghĩ của tôi
quanh quẩn một lúc lâu xung quanh cái chết của người con trai mới vừa
nằm vắt chân lên hông tôi đêm qua. Anh ta là một đảng viên. Lý do xui
khiến anh ta ra mặt trận không phải là một tình cờ lếu láo như trường
hợp của tôi. Tôi hiểu tất cả lòng nhiệt thành của người thanh niên chân
thật và ít nói ấy. Bởi anh ta hiền lành nên tiếng cười ha hả ồn ào của
người bạn hữu cao nhòng có râu mép, đeo kiếng trắng trong bữa tiệc đông
đảo ngày xưa làm anh ta hoang mang hoảng hốt quá lâu, cho nên nỗi khổ sở
lúng túng của ông giáo sư già xúc động anh ta quá sâu xa, cho nên sự
lẩn thẩn của ông tham Hà làm anh ta xấu hổ không chịu nổi. Cũng bởi anh
ta hiền lành ít lời nên mới im lìm xé nát những lá thư của ông Ba Thê.
Sự hư hỏng sau này của hai đứa em, anh ta đau khổ tự quy lỗi về mình tất
cả, anh không có can đảm tiếp tục xin cái sống cho gia đình nên đứa em
gái mới phải lui tới tiếp xúc với những người đàn ông thừa cơ hội lợi
dụng nàng. Tại anh cho nên đứa em trai lại phải đi xin xỏ từng cửa và
mất hết ý niệm về liêm sỉ, đến nỗi ngày nay thành một đứa vô dụng. Trong
nhiều năm anh ta âm thầm mang một mặc cảm tội lỗi. Rồi thời cuộc thình
lình cung cấp cho anh ta những lý lẽ để biến hết thảy những người “se
a-mi” đáng giận của ông Ba Thê ngày xưa thành ra những kẻ tư sản, thành
những kẻ thù. Anh ta hớn hở đầu độc cuộc đời mình. Đảng xóa cho anh ta
về trách nhiệm nặng nề về tính đàng điếm của Phong, về sự hư nết của
Loan… Anh thở ra một hơi dài khoan khoái. “Đáng hận chỉ có là cái tính
bủn xỉn của ông giáo sư già nọ, sự lẩn thẩn của những ông tham Hà v.v…
Tất cả nguyên do là ở những cái đó, là những kẻ tư sản xa hoa, ích kỷ và
sa đọa”.
Toàn vào đảng và chiến đấu với cái nhiệt thành của một kẻ chuộc tội.
Đêm hôm qua, tôi còn nằm bên anh ta, sát bên cạnh,
như đụng chạm những nhớ thương ríu rít của anh ta. Trưa hôm nay, tôi
nặng nề giậm từng bước trên lá dầu chất dày từng lớp, còn thây anh thì
nằm lấp trong một cái hầm ở lưng đèo Mang Giang.
Cơ hội khiến anh bắt gặp người vợ yêu quí của mình do
tấm danh thiếp của ông Ba Thê đem đến. Những thù hận làm động cơ chiến
đấu của anh cũng là do mấy tấm danh thiếp của ông ta đem đến. Những tấm
danh thiếp tai quái!
Rừng dầu thưa dần. Chúng tôi đi vào những vạt tranh
lớn bị đốt cháy. Chân chúng tôi giậm lên tro bụi, đạp gãy rốp rốp những
chân tranh khô dòn. Chỗ nào không có chân tranh thì mủ trùn đùn lên lởm
chởm và cứng ngắt. Mùi tro xông lên mũi, lẫn với mùi nắng khét từ đất
khô bốc lên. Tiếng ve ran ran vẫn đuổi theo, nghe nhỏ dần. Trên đầu
chúng tôi có đến vài mươi con diều trôi dật dờ giữa trời cao chót vót.
Xế chiều, tới một làng thượng du, chúng tôi dừng lại
nghỉ tạm. Tôi vất ba-lô dưới bóng cây, bên cạnh một ngôi nhà sàn, gối
đầu lên, ngủ thiếp đi một giấc. Lúc giật mình thức dậy thấy một thiếu
phụ thượng du ngồi ngay trước cửa đang dùng con dao dài cắt từng lát
xoài núi, thứ xoài nhỏ chỉ bằng ngón chân cái và chua vô cùng. Vừa ăn
chị vừa phân phát cho hai đứa con. Người mẹ cắt xoài đều đặn, chậm rãi,
không thèm muốn; hai đứa con không vồ vập tranh giành; cả ba ăn xoài
chua không có một chút nhăn mặt. Từ cử chỉ đến nét mặt đều một vẻ bình
thản yên tĩnh lạ lùng, ngộ nghĩnh. Người mẹ chợt bắt gặp cái nhìn tò mò
chăm chú của tôi, ngẩng lên mở một nụ cười biếng nhác, lạt lẽo.
Tôi tránh mắt, ngước nhìn lên trời: lá cây sống mả
rớt lăng tăng trong gió. Mấy con bướm nhỏ bay lấn quấn xung quanh một
cây găng trâu gai lởm chởm hồi lâu không tìm ra chỗ đậu. Đàn diều hâu đã
hạ xuống thấp, xòe những cánh xơ, bay tán loạn…
Sau giấc ngủ xế chiều, tất cả sự xúc động của chiến
trận, của cái chết người bạn bên mình tự nhiên chợt ùa về làm tôi dao
động xôn xao. Từ cái lá bay với con diều hâu xòe cánh cho đến nét mặt
thản nhiên vô sự của người đàn bà thượng du đều khiến tôi mủi lòng nhớ
làng, nhớ nhà, nhớ Loan.
Tôi nhớ Loan vô số. Chao ôi! Đã bảo quả tình tôi
không có máu anh hùng. Nếu chuyến này về được, tôi sẽ đề nghị Loan hãy
nói với tôi những chuyện khác ngoài chuyện đạo đức, tác phong, dũng cảm
v.v…
Nhưng mà sau trận đó tôi không về được. Cuộc chiến
đấu đang chuyển tới giai đoạn rầm rộ hơn trước. Từ lối đánh núp đánh
lén, chúng tôi bắt đầu cố gắng đánh những trận lớn, những trận tiêu diệt
đồn. Trong hàng ngũ, từ trên xuống dưới người ta ra sức học tập, thúc
đẩy nhau, rào rào thổi vào tai nhau ngày đêm những chuyện đạo đức, tác
phong, dũng cảm. Thét rồi tôi cũng nói dũng cảm hăng như bất cứ ai. Tôi
lẫn lộn trong hàng ngũ, nay đây mai đó, có lúc kéo xuống làng đào hầm
đắp đồn giả để tập trận, có lúc lại kéo lên Cao Nguyên, theo anh em lao
mình vào đồn địch. Những hôm bị sốt rét vì muỗi rừng tôi cuốn mình trong
tấm chăn nằm queo lại một đống như cái bao. Hai lần bị thương ở chân,
tôi được những người dân công bỏ lên võng, túm lại, khiêng đi tòn teng.
Tôi cố hình dung ra trong trí hình dáng một người nữ cứu thương. Trí tôi
bất lực không thể hình dung nổi, chỉ có bóng dáng một nữ cứu thương
không chịu thành hình, là cô con gái ông Ba Thê dẩu mỏ nói:
—… tưởng em không làm gì được hả? Em sắp sửa đi đây.
Dù là đang nằm như cái bao một mình trên nhà sàn
thượng du, dù đang bị khiêng tòn teng giữa rừng, dưới lưng và hai bên
hông quẹt lạt sạt những ngọn lá, dù ở trong hoàn cảnh nào, nhớ tới cái
khuôn mặt đầy vẻ khoác lác kiêu kỳ ấy, tôi vẫn cứ thấy nó đẹp, tôi vẫn
nhớ nó. Khổ quá, không có ai cho tôi thảo luận thỏa thuê về sự hèn nhát
của “chiến sĩ”.
Tới khi ngừng tiếng súng, tôi trở về làng, gặp ông Ba
Thê: ông Ba Thê đã hết nói chuyện “đồng thời”. Tôi thăm chào bác tôi:
cán bộ đảng theo nhau rút êm không lai vãng nữa, bác tôi cũng hết hiểu
nổi đại cuộc rồi sẽ biến chuyển tới đâu. Tôi hỏi cô Loan yêu dấu: nàng
đã có một con và bồng con theo chồng tập kết ra Bắc. Tôi chưa kịp liệu
đến cái việc để cho một kẻ khác thay thế tôi làm chồng Loan, cho nên tôi
buồn vô số.
Chúng tôi dọn về Qui Nhơn. Nhà cũ tôi ở, còn lại
nguyện vẹn một cái nền. Cây sứ lớn nhất ở góc vườn đã chết rụi, còn một
khúc gốc cao chừng một tấc tây. Cây trứng cá trước nhà lớn cao hơn nhiều
lắm, những dây thép gai quấn chằng chịt xung quanh thân cây ăn lún sâu
vào thịt. Tôi nhìn từng vết thương trên cây cối, từng dấu tích tàn phá
sửa đổi trong vườn cố đoán ra những sự hoạt động đã xảy ra trong những
năm tôi vắng mặt, lòng bùi ngùi. Tôi trở lại nhà cũ của Loan. Nhà Loan
cũng còn trơ một cái nền, trên đó ông Ba Thê dựng lại một lều tranh.
Vườn mãng cầu còn lại đúng ba cây, trên đó dính năm mười quả nhỏ, khô
queo, đen như trái táo trong tiệm thuốc bắc.
Tôi đau khổ nhìn lên hai chiếc bồ đen trên núi Chóp
Vung. Hàng ngày hai con mắt thao láo ấy đã rình mò theo dõi tận ngoài bể
khơi, điều khiển mọi chi tiết trong cuộc sinh hoạt của miền quê chúng
tôi, nó đã chứng kiến được những gì về sự bội bạc của Loan? Nó chối
phắt. Nó không biết gì ráo. Hai con mắt đen thui, ngu ngốc, giữa trời
xanh rộng rãi mênh mông, chúng bày ra cái lơ láo của những vật hết công
dụng. Chúng chối hết về mọi hồi hộp, vui buồn, cao thượng và hèn hạ, của
một thời đã qua.
Phải chi tôi cũng chối được hết như nó! Đàng này,
thỉnh thoảng, tôi vẫn còn nhớ tới khuôn mặt rạng rỡ của nàng, nhớ xót
xa. Đối với tôi có những khổ người, những khuôn mặt chỉ cần nhìn đến
cũng đủ đem lại một miền vui tin ở cuộc sống, một cảm giác yên ổn hạnh
phúc. Loan giống cha nàng ở nước da hơi ngăm ngăm đen, nhưng có cái ngực
rộng rãi của mẹ nàng. Vẻ mặt của Loan cũng vừa có cái linh hoạt vui
tươi của cha, vừa có cái hiền lành của mẹ, vẻ mặt giấu một khả năng hấp
dẫn đặc biệt. Có lần tôi thực thà thú với nàng rằng không kể tới kỷ niệm
hồi phong kiến — “xưa rồi” — thì tôi vẫn cứ mê khuôn mặt nàng. “Đang có
gì bận rộn buồn bực, được nhìn tới mặt em, anh thấy dịu xuống và mát mẻ
trong tâm trí ngay”. Loan chê tôi: “Anh chỉ chú ý tới hình thức ngoại
diện. Quan trọng là ở sự hòa hợp của hai tâm hồn”. Đúng vậy. Nếu tôi chỉ
biết chú ý tới những cái mà nàng cho là đáng chú ý: tâm hồn, nhiệm vụ,
đạo đức, tác phong v.v… thì hay cho tôi biết mấy. Đạo đức của nàng đã đi
đời mấy thuở rồi, nếu chỉ quí có nó thì tôi đã hết buồn khổ. Đàng này
tôi cứ lẩn thẩn về những chuyện mưa chiều ướt át trên mấy cái mả vôi đen
như lưng trâu, đến ý nghĩa điêu tàn kín đáo trong dáng bộ lãnh đạm khó
tả của một con gà mái, đến một giọng hát, một vẻ mặt, đến những cái rất
ít dính líu tới tâm hồn.
Loan có chồng có con và bồng bế ra đi không cần chờ
gặp mặt tôi một lần chót. Người ta ít khi tưởng tượng nổi rằng mình lại
ít quan trọng tới bực đó. Những lần ở mặt trận tôi hồi hộp vì thấy mạng
mình quá quan trọng, lần này tôi gần bủn rủn chân tay vì bỗng thấy mình
chẳng có một nghĩa lý gì cả đối với một người con gái. Từ đó tôi ngượng
mồm ngượng miệng không dám nhắc đến tên nàng, bất cứ trước mặt ai.
Toàn tử trận, Phong trộm cướp bị tù; sau, được phóng
thích thì lại không chịu về sống với cha mẹ mà cùng với người vợ không
cưới hỏi mướn nhà ở riêng. Tôi chưa kịp lo lắng cho sự sinh sống của vợ
chồng ông Ba Thê thì đã giật mình trước sự xoay trở khôn ngoan của ông
ta. Ông ta tìm không biết ở đâu ra một người gọi là cháu họ, một cô gái
mồ côi chê chồng, về ở với ông ta. Gia đình hồi cư về Qui Nhơn, bà Ba
Thê chỉ vẽ cho cô ta khi thì nấu chè, khi thì nấu cháo gà, bún bò, khi
thì gầy rượu nếp, gánh đi bán dạo. Vợ chồng Ba Thê yên tâm sống bằng
tiền lời do cô cháu gái kiếm ra, để bình tĩnh suy ngẫm, tìm kiếm một
nghề cho mình.
Tôi không được biết hồi cái tin Toàn bỏ mình ở đèo
Mang Giang bay về tới gia đình thì vợ chồng ông Ba Thê và cô vợ xinh xắn
của Toàn đón tiếp nó bằng sự xúc động ra sao. Khi tôi về thì đã có quá
nhiều ngày tháng trôi qua trên một cái tin cỏn con đó. Nhiều cán bộ đã
đến giải thích cho bà Ba Thê và chị Toàn hiểu rõ họ không nên buồn, chỉ
nên căm giận trong vinh quang. “Đồng thời” ông Ba Thê cũng giải thích
như thế. Cho nên chừng hơn một năm sau thì chị Toàn đã thôi buồn. Chị
bắt đầu mến một hàng binh, người nước Áo, phục dịch ở một cơ quan đóng
gần nhà chị. Người hàng binh trẻ tuổi ấy trước kia là một sinh viên vừa ở
trường ra liền bị động viên đưa đi đánh giặc bên cạnh quân đội Đức
quốc. Khi Đồng minh kéo tới giải phóng nước Áo, anh ta bị bắt làm tù
binh; rồi chẳng biết trải qua những tình cờ như thế nào anh ta bị đưa
sang chiến trường Đông Dương. Anh ta vô cùng chán nản, không muốn hết sự
tình cờ này đến sự tình cờ khác cứ thay nhau dọa nạt tính mệnh mình
mãi, cơ hội đến là anh giơ tay đầu hàng liền để tìm sự yên thân. Ngày
ngày người ta sai anh làm những công việc vặt vãnh trong cơ quan ở hậu
tuyến, còn thì giờ dư anh phải tham gia sản xuất: anh ta cuốc đất nhanh,
chặt cây mạnh, việc gì anh ta cũng khá, chỉ trừ có việc gánh gồng. Anh
ta không gánh được, lắc đầu ra dấu để người ta hiểu rằng ở bên xứ anh
không có dùng phương pháp chuyển vận như thế. Tuy vậy lần hồi không làm
thế nào khác được, anh ta cũng phải gánh, một cách khổ sở: anh ta cổi áo
ra lót trên vai và lấy khăn quấn rất dày xung quanh cây đòn gánh; đã
thế mà mỗi lần đặt gánh lên vai anh vẫn nhăn nhó và khom lưng xuống một
cách vụng về ngộ nghĩnh. Một hôm, anh vừa gánh phân ra đến đầu đường
bỗng nghe có tiếng cười rúc rích. Anh ta đặt gánh xuống, ngẩng đầu lên;
giọng đàn bà bùng phá lên cười xòa. Anh ta trông thấy bên kia rào một
người con gái đứng nhìn vào hai đầu gánh của anh ta, che miệng cười rũ
rượi: giữa vóc người cao lớn của anh ta và lượng phân chút xíu trong
gánh có một mâu thuẫn hài hước.
Ban đầu người hàng binh trẻ tuổi ngượng ngùng xấu hổ.
Nhưng rồi anh ta hiểu rất nhanh rằng trong sự nghịch ngợm của người đàn
bà có một vẻ hồn nhiên không ác ý, anh ta vui vẻ cười theo.
Đêm hôm ấy, ngồi nghĩ lại câu chuyện ngộ nghĩnh trong
ngày, anh ta thấy thích, mỉm cười một mình; và mượn cây vĩ cầm của một
nhân viên trong cơ quan, anh ta chơi mấy bản nhạc cũ bên xứ anh, nhớ tới
một vài kỷ niệm hồi còn đi học. Ở bên kia rào, chị Toàn lắng tai nghe
điệu nhạc lạ.
Lại một lần nữa, thêm một người đàn ông mê chị ta,
bắt đầu bằng sự oán giận… Chẳng qua là ái tình có những sáng kiến trùng
điệp… Đã không nỡ bắt tội ái tình thì thôi, chứ bắt lỗi chị Toàn làm sao
được.
Tôi về Qui Nhơn được ít lâu, có được chị Toàn giới
thiệu với người chồng mới. Họ đã sống công khai với nhau vui thú, chị có
cái hồn nhiên cởi mở thích hợp với lối bạo dạn tình cảm của người Tây
phương.
Một đêm tháng tám tôi đến chơi nhà vợ chồng chị, anh
Áo (anh chọn một tên Việt Nam giản dị: Nguyễn Văn Áo. Nguyễn Văn là cái
họ thường gặp nhất ở Việt Nam, và Áo là tên nước anh), anh vui mừng báo
cho tôi biết cái tin anh sắp sửa được “trao đổi”. Trao đổi xong, anh tìm
cách về nước ngay để thăm người chị mắc bệnh lao xương và một bà cô già
đã nuôi anh từ nhỏ đến lớn, vì anh ta mồ côi. Anh nói tiếng Việt rất
chậm, nhưng mà rõ (trong việc gì, từ việc “học tập lao động” cho đến học
nói một ngoại ngữ, anh đều chăm chỉ, cần mẫn). Tôi nhìn về phía chị
Toàn, ngần ngại. Anh ta hiểu ý:
— Nếu không cùng đi một lần được, thì về tới bên xứ
tôi tìm cách rước nhà tôi về ngay. Tôi tin là chúng tôi bên đó sẽ tìm ra
đủ tiền bạc…
Anh ta ngó vợ, nở một nụ cười đầy tin tưởng thành
thực. Chị Toàn cũng nhoẻn cười. Cái cười của người đàn bà ngoài sự biết
ơn sung sướng, còn tỏ một vẻ gì nhạo báng, coi cái việc mình đi qua tận
bên nước Áo là một điều ngộ nghĩnh, khó tưởng tượng.
Hôm anh ấy anh Áo vui vẻ nói với tôi những cảm tưởng
về cuộc kháng chiến của Việt Nam. Trước đó anh nhất định lảng tránh
những câu nói có tính cách chính trị. Anh ta khen sự dũng cảm của người
lính Việt Nam mà anh đã mục kích trên các mặt trận. Rồi anh khoe những
kỷ niệm chiến đấu hồi anh còn ở trong quân đội Áo quốc. Chị Toàn nhắc
cho anh mỗi khi anh ta tìm chữ một khó khăn. Đêm khuya, anh còn giữ tôi
lại để đàn cho nghe mấy bản nhạc anh thích. Sau mỗi bản đàn anh bàn về
nhạc, giải thích về đời sống tình cảm của người bên xứ anh, về phong
cảnh bên xứ anh… Trong cái tưng bừng ấy anh ta quên để ý đến sự thay đổi
trên vẻ mặt vợ mình. Khi người chồng bị lôi cuốn quá xa về bên quê
hương xa lạ, thì người vợ như bị lạc rơi lại giữa một hoang mang.
Tôi cáo từ ra về. Anh Áo đưa tôi ra đến ngoài đầu sân
rồi trở vào, nhưng chị Toàn tiếp tục theo tôi ra tận ngoài cổng. Người
con dâu ông Ba Thê bước lặng lẽ bên tôi tự nhiên có vẻ hiền thục trong
sự ưu tư. Tôi cảm thấy nặng nề vai trò của mình, vì đã trót chứng kiến
cái chết của Toàn bên sườn đèo; tôi tìm cách nói bâng quơ một câu, gạt
tránh cảm giác nặng nề:
— Anh ấy chơi vĩ cầm hay đấy chứ. Lam lũ vất vả bao nhiêu năm mà cầm đến đàn vẫn…
Người đàn bà lắng nghe tôi nói, không trả lời. Một lúc sau, đi đến cổng, chị gọi tôi:
— Anh.
Tôi dừng lại.
— Anh có cảm tưởng gì về cuộc… về chúng tôi?
Tôi chưa kịp trả lời. Mắt chị Toàn chăm chú nhìn
thẳng vào mắt tôi, nóng nảy, giục giã. Rồi người đàn bà vụt có sắc giận.
Chị hỏi nhanh:
— Anh cho là tôi hết nghĩ đến anh Toàn rồi chắc!
Những tiếng sau cùng run run. Hết câu nói, chị bật khóc.
Tôi vịn một tay lên rào, chờ trôi qua một chút thời gian, cho dịu sự ấm ức của người đàn bà, rồi nói:
— Chúng ta sống một thời buổi khác thường. Hoàn cảnh
tạo ra nhiều cơ hội tình cờ oái oăm hơn là ở một thời phẳng lặng. Gặp
cảnh nào, phải ứng xử theo cảnh nấy thôi, chị.
Chị Toàn không đáp. Có lẽ chị cũng không cần nghe nói
và hiểu. Chị cần khóc bên cạnh một người có thể làm chứng cho tâm trạng
của chị. Đã có lần tôi được Toàn kể cho nghe chuyện chị khóc vì một cái
nách áo bị chuột cắn: trước kia cái khóc của chị dễ dàng hơn biết bao,
như của một đứa trẻ con. Người con gái giản dị hồn nhiên ấy bây giờ đang
nén tiếng khóc sau lưng chồng!
Tiếng sóng vỗ buồn bã vào bờ bể trước nhà càng lâu
càng làm cho tôi thấy bứt rứt. Tôi ngoảnh mặt nhìn ra ngoài bể. Trăng
bây giờ lên đã quá cao và bị mây che khuất, mặt bể không còn loang loáng
ánh sáng nữa mà tất cả mặt nước rộng bao la xuống một màu xám lạt, chỉ
có những con sóng cuộn lên gần bờ mới ánh lên một gợn vàng. Gió bể phất
nhẹ vào, mát lạnh,
Một trái trứng cá chín mùi rụng xuống bàn tay tôi,
bắn ra tí nước. Tôi nắm lấy trái trứng cá mềm mềm, vân vê một lúc trên
đầu ngón tay mà không tìm được ý gì để bày tỏ với chị Toàn lúc này. Cuối
cùng tôi nói:
— Trong sự hỗn loạn mọi người bị xô đẩy tư bề, gặp
nhau, tiếp xúc nhau, va chạm nhau bất thường. Tình thế làm phát sinh ra
lắm tình cảm bất thường. Đem những thành kiến thành hình trong các thời
yên lặng mà suy xét chúng ta sao khỏi…
Tôi chán nản không tiếp tục nữa, vì thấy mình đang lặp lại một ý kiến đã nói rồi.
Ở trong nhà vừa có tiếng anh Áo đàn bâng quơ vài câu nhạc rời, không thành bài. Tôi giật mình, giục chị Toàn:
— Chị nên trở vào nhà… Hôm nào anh ấy được “trao đổi” chị nhớ cho tôi hay.
Người đàn bà kín đáo liếc nhìn ánh đèn trong nhà rồi cúi đầu xuống, giấu một tình cảm khó đoán. Tôi quay về.
Thành phố bị phá hoại, gần hết nhà cao đều bị hạ
xuống, tự nhiên như rộng thêm ra, nhất là dưới ánh sáng một đêm trăng.
Con đường tôi đang đi như cũng dàn rộng thêm. Bước đi giữa sự hoang tàn
vắng vẻ, một phần mình thấy bồi hồi, một phần lại thấy chơi vơi, một cảm
giác mới lạ gần như là cái thích thú khó hiểu được tung hoành tự do hơn
ngày thường.
Tôi nhớ lại buổi chiều anh Toàn trở về Qui Nhơn để
đặt mìn và sống những giờ ngây ngất đầu tiên. Xung quanh tôi bây giờ dây
antigone hãy còn mọc tràn lan trên các khu vườn trống, tràn ra đến
ngoài đường, hãy còn dây thép gai rào chắn ở nhiều ngả đường… Quang cảnh
chắc không khác xa ngày đó là bao.
Tôi ngừng chân trước cổng chùa Tịnh Quang, cửa chùa
mở trống, để cho mình nhìn suốt sự tĩnh mịch từ trước ra sau. Trăng
sáng. Tiếng dế kêu ran ran. Một mình đứng bên cái bóng đen đồ sộ của
ngôi chùa ngã xuống đất trắng im lặng, đêm khuya không có một hơi gió,
cây lá đứng im lìm trịnh trọng khó hiểu, tự nhiên tôi thấy bị uy hiếp
bởi cái cảm giác rờn rợn lướt trên sự hoang tàn: “Loan đi rồi. Toàn chết
rồi. Chị Toàn cũng sắp ra đi có lẽ đến tuyệt tích. Phong thành ra người
bỏ. Sau khi cơn lốc hạ xuống, lẽ đâu chỉ còn lại mình tôi trơ trọi ở
lại với vợ chồng ông Ba Thê Đồng Thời và ông bác già Đại Cuộc? Những
người trẻ tuổi đầy khuyết điểm xấu xa lầm lạc, nhưng mà là một lớp trẻ,
đã mang đi tản mác, có kẻ tận bên kia cuộc đời, hết cả sự ồn ào cuồng
nhiệt!”
(còn tiếp)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét