Nguyễn Đức Tùng
Tháng Ba về Huế đi qua thành Nội, gặp mùa sen nở,
nhớ một bài hát cũ, nhớ chị, tôi đi tìm. Nhưng căn nhà của ba mẹ con
chị trong ngôi hẻm nhỏ đã đổi chủ, không ai biết họ trôi giạt về đâu.
Ngày ấy chị hay mặc ái dào màu hồng cánh sen. Nhà
cha mẹ chị mái ngói rêu phong cổ kính, thơm mùi hoa trái, có chiếc cổng
vòm leo dây tơ hồng gần hồ Tịnh Tâm, nhìn ra sen xô sóng biếc. Có lẽ vì
vậy khi lớn lên chị thích màu trắng, màu hồng. Anh Huân, anh họ tôi,
quen chị đúng lúc mẹ anh, tức dì tôi, đi coi mắt người vợ tương lai cho
con, cô gái cùng làng không nhan sắc nhưng nết na, chăm chỉ. Cha mất
sớm, nhà đơn chiếc, anh tôi học chưa hết trung học đã đi lính, đóng quân
ở phi trường Phú Bài. Dáng người cao ráo, trắng trẻo, vẻ trí thức. Tôi
nhớ hình ảnh của anh mỗi lần đến thăm mẹ tôi, đi giày da đen bóng, mặc
bộ đồ lính màu xanh xám, ủi hồ thẳng nếp, như vừa bước từ tiệm giặt ủi
ra, cười nửa miệng. Hồi ấy đồng phục lính thật đẹp. Yêu chị, anh về năn
nỉ gia đình từ hôn nhưng không được chấp nhận. Dì tôi một mình nuôi con
trai độc nhất, cực khổ trăm bề, tính tình cứng rắn, thương con thì
thương quyết không đổi ý.
Thế là anh tôi có người vợ trẻ để ở quê, cưới
hỏi đàng hoàng, làm dâu dì tôi hai mẹ con sớm hôm thủ thỉ, trong khi anh
vẫn ở với người phụ nữ khác ở Huế.
Chị làm ở văn phòng đại học Luật, chạy xe Vélo
Solex, xe PC, mặc áo dài, xõa tóc ngang vai. Anh tự học lấy bằng Tú tài,
ghi danh học trường Luật, nơi có cây đa cao lớn phủ bóng mát rộng thật
đẹp trên đường Lê Lợi, vì vậy hai người quen nhau, hẹn hò dưới bóng cây
đa những trưa mùa hè mồ hôi ra như tắm. Anh Huân gọi chị là Tịnh Tâm, để
nhớ mùa sen nở quanh căn nhà của cha mẹ chị, nhưng đó không phải là
tên khai sanh. Tên cha mẹ đặt, sau khi họ gặp nhau, trở nên không có
thật. Nhưng chị thì có thật trên đời, đi lại nói cười, ngoài hai mươi
tuổi đã rơi vào mối tình cay đắng, bị cha mẹ từ bỏ, không lối thoát, ra ở
riêng, đẻ hai đứa con cho anh, một trai một gái xinh đẹp, nhưng chúng
không được gia đình thừa nhận, lớn lên lủi thủi, tình thương của người
đàn ông không đủ bù đắp niềm tủi thân của những đứa trẻ ngoài giá thú.
Tuy thế tính chị vui vẻ ưa giao thiệp, thích gần
gũi bà con, chưa thấy bóng người đã nghe tiếng cười nói. Những lần mẹ
tôi dẫn tôi vào Huế thăm bà con bên ngoại, tôi được anh và chị đưa đến
khoảng sân rộng trước chợ Đông Ba, buổi tối bày la liệt hàng quán, dưới
những ngọn đèn dầu nhỏ, ngồi trong bầu trời của Huế thanh bình thuở ấy,
ăn tô bún bò rắc ớt hiểm cay xé, đập lắc cắc hột vịt lộn trộn rau răm,
húp tô cháo gà rải lá chanh xắt vụn li ti, rắc tiêu đen Gio Linh thơm
hăng hắc. Khi cao hứng anh gọi một ly la-de Con Cọp sủi bọt, đưa cho tôi
nếm thử một hớp. Còn chị hát nho nhỏ Khi đã yêu thì mơ mộng nhiều/ Mơ ngày mai pháo nhuộm đường vui…
Mười bốn tuổi, ngồi bên chân cầu Tràng Tiền, ngước nhìn mấy vài cầu
trắng đục vắt vẻo trong sương mù trên sông như thực như ảo, tôi thầm
nghĩ: xã hội hiền lành quá, thiên nhiên đẹp đến nao lòng, họa có người
điên mới đòi thay đổi nó. Đó là thời kỳ sau Tết Mậu Thân, vết thương
nhức buốt của Huế đang dần hồi phục, nhưng trên các bức tường gạch rêu
phong cổ kính vẫn còn đọc được các khẩu hiệu sơn chồng lên nhau. Anh chị
có khi còn dẫn tôi vào cà phê Na ở góc đường Trần Hưng Đạo, Huỳnh Thúc
Kháng, lơ thơ ngọn đèn mờ, vẳng tiếng hát Duy Trác nhẹ như tơ, Hà nội ơi tóc thề thả gió lê thê…,
Anh Ngọc đậm đà, Thanh Thúy réo rắt, uống cà phê phin. Hay vào quán cà
phê Góp Gió của sinh viên gần đường Huyền Trân Công chúa, có hàng cây
đoác cao vút lao xao, nghe giọng Hà Thanh Một dòng tràn ý biếc, Bích Chiêu, Anh Khoa, Anh nói với người phu quét đường xin chiếc lá vàng,
tán dóc với những bạn bè trường Luật của anh, cãi nhau về hiện tình đất
nước, về đảo chánh, về chiến tranh, giữa khói thuốc mù mịt, làm tôi ho
sặc sụa.
Những sinh viên phản chiến, cầm biểu ngữ xuống đường, có người còn nhét cuốn La Nausée
của Jean Paul Sartre trong túi, sau ngày hòa bình lập lại, bỗng biến
thành gã đạp xích lô, người chạy xe ôm, kẻ lên chức tổ trưởng dân phố,
có người hạ sơn ngồi bán thuốc tây ngoài chợ trời Tây lộc, gặp nhau
không nhận ra nhau. Nhưng lúc ấy tôi còn nhỏ chưa biết thưởng thức cà
phê, chưa quen đọc triết học hiện sinh, chỉ bắt đầu khoái ăn bánh mì
patê Pháp, uống trà Lipton. Sau tháng tư 1975, là sĩ quan, anh phải về
quê quán cũ trình diện, một cách tự nhiên trở lại với người vợ chính
thức của mình, để lại chị và hai đứa con nhỏ. Học tập cải tạo một thời
gian ngắn, thêm một năm đi làm thủy lợi như thời vua Vũ bên Tàu, nhưng
thô bạo hơn, làm cạn kiệt các dòng sông vốn khô hạn ở miền Trung, hoán
đổi giang sơn, làm mất mùa liên tiếp, đói xanh mặt, anh mang gia đình
vào Long Khánh lập nghiệp, làm rẫy cà phê. Còn chị, sau một lớp học tập
chính trị, được tiếp tục đi làm, gọi là lưu dung, được trả lương tử tế,
một tháng mười mấy ký gạo trộn khoai sắn. Mùa thu năm 1975, tôi vẫn còn
gặp chị trước hành lang đại học Luật quét vôi trắng, chị đổi qua mặc
quần đen satin Mỹ Á nhưng vẫn còn tà áo dài ủi thẳng nếp, tóc xõa ngang
vai. Chị đã bán những chiếc xe PC Honda, Dame, Velo Solex, đi làm việc
bằng xe đạp Phượng Hoàng trông như xe của các tay đua coureur đường dài của Pháp, sau
yên chất thêm cây nước đá bọc mạt cưa trong bao tải nâu, bốc mùi ẩm mốc
của thóc gạo cũ, bỏ mối cho các quán dọc bờ sông Hương, cà phê trên
đường Trương Định, và quán Góp Gió lúc ấy đã đổi tên, dù buộc kỹ vẫn
lỏng le rớt lên rớt xuống. Vài tháng sau mọi chuyện lại thay đổi, lương
cán bộ không đủ sống, cơ quan cắt giảm biên chế, chị ở trong số những
nhân viên bị cho thôi việc sớm. Từ đó, mặc dù tôi vẫn đi học ở Huế nhưng
ít khi gặp chị.
Mỗi tháng một lần tôi mang ba lô túi xách lên ga
Huế về quê. Xe lửa thời trước, khi tôi còn bé, mặc dù trang bị còn đơn
sơ nghèo nàn, nhưng sạch sẽ và lịch sự. Đi xe lửa là một cái thú của
người biết thưởng ngoạn. Nhưng chiến sự ngày càng ác liệt, các đường tàu
bị gài mìn giật sập, xe lửa ngừng chạy, cỏ cao mọc lút thềm ga vắng,
người bẻ ghi chết già trong thương nhớ. Cho đến sau hòa bình, đường tàu
Thống Nhất được xây dựng sớm, các nhà ga hoạt động trở lại với những toa
tàu đóng ở Ấn Độ mới toanh, ầm ì ra vào ga, nhưng cảnh tượng mau chóng
trở nên hỗn loạn.
Một hôm, trời mưa sẫm tối, đang cắm cúi khệ nệ
khiêng những túi xách trên vai băng qua khoảng sân hẹp của ga Huế, tôi
nghe tiếng một người phụ nữ chào mời, em ơi em ơi để chị gánh giúp cho.
Hồi đó ở sân ga có nhiều người làm nghề khuân vác thuê cho hành khách:
những người lính lên tàu ra Bắc mang theo búp bê trẻ em, xe đạp chỏng
gọng, đồ đạc lỉnh kỉnh làm quà, những người Huế bán cơ ngơi sự nghiệp
gồng gánh vợ con chạy vào Nam, những người buôn hàng chuyến và hàng sỉ,
dân kinh tế mới, đi thủy lợi, dân buôn vải lậu từ Lào, thuốc lá lậu từ
Thái Lan, trà lậu từ Bảo Lộc, thuốc tây lậu từ Miên, dân buôn trầm lậu
từ Trường Sơn. Phụ nữ xách đòn gánh đứng chờ đông như đạo quân tóc dài
đi biểu tình, xắn quần quá gối, nhận tiền công rẻ mạt, nhưng họ vẫn ế
khách, tranh giành dữ dội, có khi cấu cả móng tay vào nhau, vết rách dài
như do bảo kiếm, vì người đi xe lửa cũng chẳng có nhiều tiền. Tôi không
hiểu sao ngày ấy nhà ga được sắp xếp lạ lùng, ngớ ngẩn, có nhiều đoàn
tàu xe lửa Nam Bắc chạy vùn vụt qua sân ga không dừng lại, trong khi
hành khách và người khuân vác vẫn chạy đi chạy lại nhộn nhịp, kêu la í
ới, lại thêm những người nhảy tàu trốn vé, những người buôn bán quẳng
từng thùng hàng nặng kịch, kéo theo heo gà vịt ngỗng ngan trong rọ, lăn
ầm ầm từ trên nóc toa xuống trước khi tàu vào ga, như một cơn bão, để
trốn nhân viên kiểm soát, hay được móc ngoặc trước bởi chính các nhân
viên ấy, tất cả có thể gây tai nạn khủng khiếp. Mà tai nạn hay xảy ra,
mạng người cũng rẻ, trong một luồng chảy lịch sử vĩ đại mù lòa gồm nhiều
vũng nước xoáy điên rồ, cát bụi người ngợm trộn lẫn vào nhau, số phận
cá nhân như cọng rau cuống lá, nỗi bất hạnh dù lớn đến đâu cũng không đủ
sức làm ai kinh ngạc nữa.
Nghe tiếng quen quen, tôi quay lại. Và nhận ra
chị, quần bà ba đen, áo sơ mi màu cháo lòng bên trong, ngoài khoác cái
áo lính nhảy dù rằn ri. Chị ôm lấy tôi, khóc như trẻ con. Tôi thấy nghẹn
ở cổ. Nguôi ngoai, chị lại dẫn tôi về nhà, cho ăn uống. Các cháu đã
lớn, nay biết giúp mẹ việc nhà. Cuộc sống cuối những năm bảy mươi khó
khăn, chị siêng làm lụng, đầu tắt mặt tối, nên anh chị không gặp nhau
nữa, cũng như những người quen biết khác thời đó, trước đây cùng nhau
học một trường, từng bao dịp chuyện trò vui chơi đàn hát, mộng lớn mộng
con, văn chương văn chiếc, nay có khi đi qua trước cổng nhà mà không ghé
lại, không nỡ nhìn thấy người thiếu nữ xưa ta thầm yêu nay trong cảnh
cơ hàn. Không biết chị có còn hát nhỏ một mình như ngày trước Khi đã yêu thì lo sợ nhiều/ Lo chiều thu nắng nhạt màu tươi…
Bẵng đi một thời gian, tôi về quê nghỉ hè ba
tháng, khi trở lại Huế, xuống ga, nhìn thấy những người đàn bà mang đòn
gánh đứng mời khách ở ngay cửa toa của đoàn tàu chưa kịp ngừng hẳn bánh,
tôi liền nhớ đến chị. Khi tôi đến nhà riêng của mấy mẹ con chị trong
ngõ Gia Hội bùn lầy quanh năm, đứa con trai mở tấm phên cửa ôm lấy tôi,
khóc kể lể. Rồi hai chúng tôi vừa đi vừa chạy vào bệnh viện trung ương
Huế, đầu cầu sông Hương. Một tuần trước đó trong đêm tối trời, khi đang
khuân đồ cho khách xuống tàu, tranh nhau chạy qua những đường ray chằng
chịt, chị bị xe lửa cán qua nghiến nát bàn chân. Chị thoát chết, nhưng
mất chân trái, cưa trên đầu gối. Sau giải phẫu, chị nằm nhiều ngày ở
khoa chấn thương của bác sĩ Trần Tiễn Ngạc. Tôi đứng bên giường chị,
trong khoảng tranh tối tranh sáng. Chị không khóc, tập vịn giường bước
đi chập chững, khuôn mặt tuy đau đớn nhưng vẫn có nét bình thản. Không
biết tôi đã nói gì lúc ấy, nhưng chị bảo: Em đừng khóc, chị không buồn
nữa em à, vì đời chị buồn đã lâu rồi. Chị chỉ lo mai đây không biết làm
việc gì để nuôi hai cháu còn nhỏ. Nếu nghĩ ra được sinh kế, chắc chị sẽ
gắng vui mà sống. Nói xong, chị lại kể chuyện pha trò để làm tôi vui.
Tôi để thằng bé con chị về trước rồi ra đứng một mình trên lan can lầu
bệnh viện nhìn xuống sông, trăng rằm lên cao, đỏ hồng, bát ngát, lát sau
mây che xanh tái lại, rồi lại ló ra. Trời khuya, sinh viên và y tá đi
thăm bệnh phát thuốc lần cuối, tôi chào chị ra về, hai chị em ôm lấy
nhau, nước mắt tôi ứa ra. Đến chân cầu thang, tôi quay lại, định hỏi
thêm một việc.
Chị đang ngồi trên giường quay mặt về cửa sổ,
không thấy tôi, đưa chân trái bị thương tật lên xoa bóp. Đèn phòng đã
tắt, nhưng đèn hành lang hiu hắt đỏ, trộn lẫn ánh trăng, làm thành một
thứ ánh sáng xám, hắt bóng chị lên nền tường trắng im lìm. Chị đang gỡ
từng tấm vải băng ra khỏi mỏm chân cụt trái, thời đó bông băng trong
bệnh viện rất hiếm, chỉ dành cho bệnh nhân mới mổ xong hoặc các đối
tượng đặc biệt. Tôi thoáng thấy màu đỏ như máu, sợ hãi, đứng sững, một
lúc sau mới dám tiến lại gần. Thì ra đó là những tấm vải màu hồng cánh
sen, có lẽ chị đã xé ra từ những tà áo dài lụa, cắt đều đặn rất khéo,
trông như vải băng bó chuyên nghiệp. Trên nền vải drap trải gường nhàu
nhĩ vàng ố, bên chiếc gối các con chị mang từ nhà lên, may bằng vải bao
cát, tức là từ các bao đựng cát chất làm công sự chiến đấu của lính Mỹ,
thứ hồi đó nhà nghèo hay dùng làm vải may quần phụ nữ, màu xanh xám xịt,
xù lông, mặc vào rất ngứa, da nổi mẩn, nhưng phụ nữ lao động thời đó da
cũng không cần trắng mịn lắm, những tấm vải lụa trông thật đẹp, thật
bóng và mát mắt, hơi ngộ nghĩnh, yêu kiều, lạc điệu, thách thức, đáng
thương.
Chị nhìn tôi, điềm tĩnh, không ngạc nhiên, đưa
tay ngoắt tôi lại gần, mỉm cười, giống như khi chị đang ngồi làm việc
sau chiếc bàn dài ở văn phòng của Luật Khoa Đại Học Đường, những ngón
tay thoăn thoắt chạy trên bàn phím đánh máy, khi chị cần nói chuyện
chúng vẫn làm việc không ngừng. Khuôn mặt chị ngẩng lên sáng ấm như
trăng rằm mỗi khi anh Huân dẫn tôi đến đón, hai anh em đứng im một lúc ở
cửa ra vào, có lẽ vì anh muốn ngắm chị lâu, khuôn mặt ấy vừa mừng rỡ
vừa buồn rầu, vừa trách móc vừa khoan thứ, cho mối tình đầu đơn sai lầm
lỡ.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét