(TBKTSG Online) – Sau Đổi mới, Hiến pháp 1992 đã minh định nguồn gốc quyền lực nhà nước: “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”.
Mọi quyền lực nhà nước đều do dân trao cho. Người của thực thi quyền
lực thay vì vỗ ngực xưng “ta là quan”, thì khiêm tốn nhận mình là “công
bộc” nhân dân. Dù với tư cách đại biểu, đại diện, công bộc hay luật sư
của dân thì họ đều phải hành xử theo dân nguyện, và người dân có thể thu
hồi sự ủy quyền này, nếu không còn tin tưởng vào sự trung thực hay sáng
suốt của họ nữa.
Trong các thảo luận gần đây, đặc biệt là cuộc
thảo luận về dự thảo Luật Trưng cầu dân ý, không ít ý kiến cần được xem
xét lại dưới góc nhìn nguồn gốc quyền lực của nhà nước, quyền lực của
các “công bộc” và quyền lực của nhân dân.
Quyền dân chủ trực tiếp dùng để làm gì?
Một trong những bổ sung quan trọng của Hiến pháp
2013 là bổ sung quyền dân chủ trực tiếp vào Điều 6 Hiến pháp. Sự bổ sung
này nhằm bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; bảo đảm kênh kiểm soát dự
phòng khi dân chủ gián tiếp (thông qua bầu cử) gặp trục trặc, không
hiệu quả hoặc không đáng tin tưởng để quyết định những vấn đề liên quan
vận mệnh quốc gia.
Tại sao các nền dân chủ hiện đại đều cần đến kênh
dự phòng này? Bởi các đại biểu, các nghị sĩ cũng là con người, họ có
đam mê, tham vọng và xác suất mắc lỗi lầm của loài người nói chung. Khi
nắm giữ trong tay quyền lực của thiên hạ, họ càng có nguy cơ bị tha hóa,
phản bội lại lợi ích của cử tri, tư lợi, hay đơn giản là “xa dân lâu ngày dễ sinh cái nhìn phiến diện, quan liêu”.
Lúc này kênh dân chủ trực tiếp (trưng cầu ý dân) cần được kích hoạt để
người dân trực tiếp thực hiện quyền lực của “ông chủ”, thay vì trông chờ
vào “sự anh minh trở lại” hay sự bớt tham lam của các “công bộc”.
Chối bỏ hay trì hoãn kênh trưng cầu dân ý, dân
chủ trực tiếp là chối bỏ kênh dự phòng này, là sự trì hoãn thực hiện
nghĩa vụ hiến pháp (đối với nhà nước) tại Điều 6 Hiến pháp 2013. Nếu xem
hiến pháp là khế ước xã hội của toàn dân, thì sự trì hoãn là việc chậm
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng từ phía nhà nước.
Nên thực thi dân chủ trực tiếp ở mức độ nào?
Bản chất của kênh dân chủ trực tiếp dùng để ngăn
ngừa sự lạm quyền của nhà nước, nên việc sử dụng kênh dân chủ trực tiếp ở
tần suất nào, ở vấn đề gì (*) , phụ thuộc nhiều vào mức độ tin tưởng
giữa “ông chủ“ (nhân dân) và các “công bộc“; và quan trọng là sở thích
của “ông chủ“. Ở những đất nước có dân trí và quan trí đều cao, ít tham
nhũng như Thụy Sĩ người ta vẫn thường dùng dân chủ trực tiếp. Ngược lại ở
những đất nước lắm giải Nobel như Hoa Kỳ, nhờ có thể chế chính trị hoạt
động theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, thì người ta tin tưởng vào sự
trung thực của “công bộc“, mà chuyên tâm vào việc làm ăn, ít có nhu cầu
trưng cầu dân ý.
Nếu nhìn từ góc nhìn giữa cổ đông và hội đồng
quan trị công ty cổ phần hay quan hệ giữa thân chủ và luật sư thì ta sẽ
rõ hơn phạm vi và nhu cầu của trưng cầu dân ý phụ thuộc lớn vào mức độ
tin tưởng.
Một hội đồng quản trị gồm các thành viên tài
năng, nhưng có tì vết về tham nhũng thì đại hội đồng cổ đông phải giành
lấy quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty. Khi công ty
làm ăn yên ổn, thì chỉ cần tiến hành đại hội đồng cổ đông mỗi năm một
lần là đã đủ sức kiểm soát, nhưng nếu gặp trục trặc thì các phiên đại
hội đồng cổ đông bất thường cần phải được kích hoạt, tựa như kích hoạt
trưng cầu dân ý vậy.
Tương tự, phạm vi mà thân chủ ủy quyền cho luật
sư phụ thuộc vào mức độ tin tưởng; chứ không phải là trình độ của thân
chủ càng thấp thì bắt buộc phải ủy quyền cho luật sư càng nhiều; càng
không có chuyện, trình độ thân chủ thấp, thì đương nhiên quyền quyết
định sẽ thuộc về luật sư. Thân chủ dù thông thái hay ngu dốt thì họ mới
là chủ; luật sư chỉ là người làm thuê, hoạt động trong phạm vi ủy quyền
mà thôi; thân chủ chưa hiểu thì phải ra sức thuyết phục.
Qua một chuỗi vụ việc từ PMU18, Vinalines, chặt
cây xanh ở Hà Nội… người dân đang dần mất niềm tin (**). Các văn kiện
Đảng cũng thừa nhận một bộ phận không nhỏ đảng viên thoái hóa, biến
chất. Điều này có nghĩa, nhu cầu triển khai kênh dân chủ trực tiếp tại
Điều 6 Hiến pháp là đúng đắn và cần thiết. Sự trì hoãn, càng có thêm
thời gian cho bộ phận không nhỏ thoái hóa biến chất có thêm thời gian
thao túng.
Chưa trải qua một cuộc trưng cầu dân ý thực sự,
thì ai cũng có thể đưa ra tuyên bố rằng “toàn dân đã nhất trí“ hay “toàn
dân đã tin tưởng tuyệt đối“. Và mọi tuyên bố này đều là cảm tính, chưa
có cơ sở chắc chắn.
Đại diện theo ủy quyền bỗng chốc thành giám hộ?
Khi ra ứng cử, ứng viên cam kết trung thành với dân nguyện, bất kể trình độ của cử tri ra sao. Và Quốc hội là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân“ (Điều
69 Hiến pháp), chứ không phải là cơ quan giám hộ cao nhất của nhân dân.
Vì vậy, đại biểu là người đại diện theo ủy quyền, chứ không phải là
người giám hộ của nhân dân để đương nhiên có quyền nói hộ tất cả mọi
thứ.
Hãy nhìn vào tình trạng tham nhũng để thấy được
nhu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước. Hãy nhìn vào lịch sử hơn 2000 năm,
chứ không phải vào lịch sử 100 năm, để thấy rằng dân tộc Việt Nam có
thể tự tìm đường đi cho mình, mà không nhất thiết phải đặt dưới sự giám
hộ của một lực lượng nào.
Sự thông thái có nghiễm nhiên trở thành ông chủ? Trong các xã hội chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, thì Khổng Minh trở thành hình tượng cho sự thông thái và Ấu Chúa (con trai Lưu Bị) trở thành hình tượng cho sự non nớt. Nhưng Khổng Minh đã không nhân danh sự thông thái của mình và sự non nớt của Ấu Chúa để hạn chế quyền quyết định của Ấu Chúa; mà ngược lại kẻ có đạo đức phải ra sức thuyết phục Ấu Chúa điều hay lẽ phải. Nếu tài thuyết phục chưa đủ cao, Ấu Chúa không nghe lời, thì vẫn phải tuân lệnh Ấu Chúa. Đơn giản – Ấu Chúa mới là chủ nhân, chứ không phải là quân sư. |
(*) Dĩ nhiên: Ở đây đang bàn mối quan hệ giữa Nhân
dân và Nhà nước; còn trong quan hệ giữa nhóm đa số và thiểu số, thì nhóm
đa số không thể thông qua trưng cầu dân ý để tước đoạt nhân quyền của
nhóm thiểu số. Hay nói cách khác, vấn đề nhân quyền, công lý không thể
dùng trưng cầu dân ý để quyết định.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét