Phê bình “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu trong sách Văn 12

Phùng Hoài Ngọc








Ngày 3/7/2015 năm nay, hơn một triệu thí sinh lớp 12 đi dự cuộc thi quan trọng đầu đời, cuộc thi hai trong một
(thi tú tài và thi tuyển vào đại học). Đề thi Văn này sẽ để lại dấu ấn
sâu đậm trong cả cuộc đời thí sinh. Rất tiếc câu 2 trích từ một tác phẩm
văn học chất lượng kém. Đành rằng nền văn học nào cũng có tác phẩm hay
và dở, hay thì đọc, dở thì bỏ qua, hay khen, hèn chê. Đó là tính dân chủ
của văn học. Nhưng một tác phẩm được chọn vào sách giáo khoa cho học
sinh nhất định phải là tác phẩm hay, như cổ nhân gọi là sách kinh điển.






Nhân phân tích câu 2 của đề thi Văn (chiếm tới 4 điểm/10) được trích từ truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, chúng tôi xin trình bày đánh giá toàn bộ truyện ngắn đó.





Sơ lược truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”





Phóng viên Phùng từ Hà Nội đi vào vùng duyên
hải miền Trung, chụp ảnh làm lịch Tết, nhân gặp lại bạn đồng đội cũ tên
Đẩu làm chánh án huyện. Anh chụp được bức ảnh “Chiếc thuyền ngoài xa”
rất đắc ý, cảm hứng ngây ngất trước “một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích, trái tim như có cái gì bóp thắt, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.
Sau đó, anh chứng kiến cảnh “chiếc thuyền vào bờ” và người chồng ngư
dân đánh đập vợ dã man. Lần thứ hai anh lại phải chứng kiến cảnh đó và
dũng cảm ra tay can thiệp. Anh được bạn chánh án kể chuyện gia đình
thuyền chài khổ cực như thế nào và lắng nghe tâm sự của nữ nạn nhân. Anh
và bạn bó tay trước hoàn cảnh nan giải của vợ chồng hàng chài (thực ra
anh chánh án cũng gọi lão chồng đến “giáo dục”!)… Mặc dù thất vọng về
bức ảnh của mình, anh vẫn phải về nộp ảnh cho cơ quan và bộ lịch treo
Tết vẫn hoàn thành.



Nội dung truyện có thể chia làm hai phần.


Nội dung 1. Cảnh khổ cực của gia đình thuyền chài và nạn bạo hành.


Nội dung 2: Tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn.


Hai phần đó đan kết vào nhau tạo ra tác phẩm.


Truyện ngắn mang rõ tính chất “tuyên ngôn nghệ thuật”, cũng gọi là tiểu thuyết “luận đề”.


Đó là tuyên ngôn: văn học cần phải miêu tả hiện
thực nghiêm nhặt, phải miêu tả được bi kịch của người dân lao động hơn
là miêu tả cái bề ngoài lãng mạn, đẹp mắt. Tuyên ngôn thật giản dị và
đúng đắn.


Nhưng tuyên ngôn này rất cũ bởi nhà văn Nam Cao
đã phát đi từ trước đó hơn nửa thế kỷ trong hai thiên truyện nổi tiếng
“Trăng sáng” và “Đời thừa”.


Nghệ thuật của một dân tộc như một dòng chảy bất
tận không lặp lại. Nếu viết về một chủ đề cũ thì nhà văn đi sau phải
khác biệt hoặc cao hơn, sâu sắc hơn. Xem ra, tác phẩm tuyên ngôn của
Nguyễn Minh Châu chưa thể sánh bằng Nam Cao về mặt nghệ thuật. Cơ bản vì
Nguyễn Minh Châu đã mắc thiếu sót lớn về mỹ học khi ông coi rẻ nghệ
thuật nhiếp ảnh và lúng túng, thiếu nhất quán, tự mâu thuẫn trong nghệ
thuật xây dựng nhân vật,thiếu vốn sống thực tế.


Sai lầm nghệ thuật học, nhà văn đã so sánh khiên cưỡng nghệ thuật nhiếp ảnh với nghệ thuật văn chương


Bức ảnh “Chiếc thuyền ngoài xa” của phóng viên
Phùng có giá trị trọn vẹn của thể loại nhiếp ảnh. Phong cảnh sương sớm
và chiếc thuyền đang vào bờ “trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu
của một danh họa thời cổ…, một vẻ đẹp thực đơn giản dị và toàn bích…,
cái chân lý của sự toàn thiện… cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn
”, đủ
cho một bức ảnh phong cảnh mang tên đại loại như “Thuyền về trong sương
sớm”, hay là “Biển sớm” (giả dụ phóng viên Phùng đặt tên cho bức ảnh
như thế) và sẽ in vào tấm lịch tháng treo ngày Tết.


Phong cảnh có nghĩa là “cảnh đẹp”. Lịch tháng
treo tường mỗi tháng chọn một phong cảnh, nếu tương đồng với mùa vụ khí
hậu càng hay. Phong cảnh cần đem lại cảm xúc tươi đẹp, dễ chiụ cho con
người. Lẽ nào một bức ảnh lịch treo tường Tết lại tả cảnh anh chồng ngư
dân đánh đập vợ trên bãi biển?!


Nghệ thuật nhiếp ảnh là nghệ thuật chộp được cái
khoảnh khắc ưng ý nhất, may mắn thì bắt gặp, nếu không thì nghệ sĩ phải
công phu dàn dựng. Nhà báo Phùng chộp được bức ảnh ưng ý, phù hợp ý
tưởng nghệ thuật của mình. Đó là khoảnh khắc có ý nghiã của cuộc sống,
dù chỉ là một lát cắt ngang. Nhưng đó cũng là sự hạn chế của nhiếp ảnh
do nó không thể hiện được sự vận động của đời sống theo thời gian. Chỉ
có văn chương mới có khả năng to lớn ấy.


Nhà báo ảnh chụp được bức ảnh “Chiếc thuyền vào
bờ trong sương sớm” khi cảm xúc thực sự trào dâng, anh đã “bấm hết nửa
cuốn phim” chỉ để chọn một bức.


Đoạn kết truyện cho biết: tập ảnh vẫn được duyệt
và in thành lịch treo. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đã phát hiện những vẻ đẹp
lao động của ngư dân lồng trong phong cảnh biển khơi nên thơ trong
sương sớm. Anh đã hoàn thành nhiệm vụ. Thể tài ảnh lịch miêu tả như thế
là đúng đắn. Thực khiên cưỡng khi nhà văn đòi hỏi ảnh lịch Tết phải đưa
cảnh “chồng bạo hành vợ” vô đây?!. Ngày xưa nhà văn Nam Cao đã so sánh
dòng văn học hiện thực với dòng văn học lãng mạn giai đoạn 1930-1945
trên cùng nguyên lý văn học, nhuần nhuyễn, hợp lý hơn nhiều.


Nhà văn Nguyễn Minh Châu đòi ống kính nhiếp ảnh
phải miêu tả cả “chiếc thuyền ở gần” với cảnh chồng bạo hành vợ. Tuy
nhiên, cảnh “ở gần”, tức là cuộc sống hiện thực của nhân vật ngư dân,
chỉ có thể do văn chương, sân khấu, điện ảnh đảm trách với khả năng miêu
tả rộng rãi đầy đủ của nó, không bị thời gian và không gian cản trở.


Cảnh gia đình ngư dân khốn khổ và nghệ thuật xây dựng nhân vật non yếu


Nhà văn miêu tả người đàn bà thay đổi thái độ (từ
sợ sệt khúm núm đến sắc sảo) đến điệu bộ khác, ngôn ngữ đổi khác trong
khi gặp Đẩu và Phùng. Nhà văn không lý giải được sự biến đổi tính cách
đó. Nghệ thuật xây dựng nhân vật như thế còn non yếu.


Đây là đoạn văn trình bày cái khổ cực của người
đàn bà. Đoạn văn này giữ vai trò quan trọng giúp cho phóng viên Phùng và
Đẩu chánh án tòa huyện hiểu số phận gia đình hàng chài:


Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được
chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ khổ chứ trước kia vào
các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con
cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối
”.


Câu nói lộn xộn, lủng củng, mâu thuẫn trên là của
nhà văn chứ không phải của người đàn bà. Bởi vì nhà văn tả rằng chị ta
nói rất tỉnh táo: “người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình.





Câu văn dài nêu ra ba nguyên nhân nỗi khổ: đẻ nhiều, chiếc thuyền hẹp, ông trời làm động biển, và một cái sướng vu vơ không căn cứ: “từ ngày cách mạng về đã đỡ khổ”.


Đoạn văn luộm thuộm kỳ lạ “…từ ngày cách mạng về đã đỡ khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối….


Theo logic câu, người đọc sẽ hiểu “cách mạng về”
làm thay đổi, khiến “ông trời” không dám “động biển” nữa ư? Nhà văn cố ý
ca ngợi “cách mạng” một nửa câu để giữ lập trường nhưng viết câu lúng
túng vội vã quá, nói cho qua chuyện thì thôi. Suốt câu chuyện bạn đọc
không thấy cách mạng giúp gì cho vợ chồng thuyền chài này. Ấy là chưa
nói, ông chánh án huyện còn làm phiền hà gia đình này nữa.


Kết truyện, nhà văn nói quấy quá cho xong vai trò
“cách mạng” của ông chánh án Đẩu “gọi lão chồng đến giáo dục” nên chị
vợ đỡ khổ nạn bạo hành, ”không khéo sẽ còn hành hạ mụ cho đến khi chết – nếu không có cách mạng về (gần
cuối truyện). Câu này còn chỉ rõ nạn bạo hành gia đình là sản phẩm của
miền Nam dưới chế độ Mỹ ngụy! E rằng nhà văn nông cạn và thiếu thực tế,
lại mang sẵn định kiến quá chăng!


Người đàn bà suy ngẫm rồi kết luận: “Nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”.


Người đàn bà đánh cá mang ơn nặng nghĩa dày của
anh hàng chài nghèo chiụ cưới người con gái xấu (tương tự, trong truyện
ngắn “Đời thừa”: nhân vật chị Từ cũng được văn sĩ Hộ cứu vớt cuộc đời lỡ
dở nên chị hàm ơn Hộ suốt đời). Chị vợ đánh cá cũng khen chồng vốn là
một “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập
tôi”… (nhân vật văn sĩ Hộ cũng hiền lành vậy, chỉ khi viết văn bế tắc,
uống rượu say mới chửi rủa vợ)… Ngay cả tình tiết này Nguyễn Minh Châu
cũng chịu ảnh hưởng Nam Cao nhưng lại chưa nhuần nhuyễn bằng Nam Cao.
Nhân vật Từ nhẫn nhịn chịu đựng những cơn say của văn sĩ Hộ vì tình
nghĩa. Chị vợ hàng chài nhịn nhục vì cuộc sống thuyền chài cần người đàn
ông, nghĩa là, chị này tính toán thực dụng hơn, không hàm ân nghĩa như
nhân vật Từ. Cây bút Nguyễn Minh Châu thua xa Nam Cao trong việc xây
dựng nhân vật phụ nữ khổ đau nhưng có phẩm chất tốt đẹp!


Nếu căn cứ theo nữ nhân vật tự nhận thức, toàn bộ
cái khổ chủ yếu do hai vợ chồng hàng chài không chịu “kế hoạch hóa gia
đình”, tức là do dân trí thấp, hoặc là do nhà nước chưa biết quản lý dân
số bằng “kế hoạch hóa”. Hoặc, nạn bạo hành này là sản phẩm của miền Nam
chế độ cũ! Chủ đề tư tưởng của truyện ngắn phức tạp tự mâu thuẫn rối
rắm không cần thiết.


Chưa hết, nhà văn tả cảnh chẳng phải ngẫu nhiên
bốn lần nhắc đến cái “xe tăng Mỹ hỏng bánh xích” và “xe rà mìn của công
binh Mỹ” nằm trên bãi biển, “bãi xe tăng”… những dấu hiệu chỉ ra rằng
đây là vùng đất miền Nam dưới chế độ Sài Gòn Việt Nam Cộng hòa. Lại thêm
anh hàng chài “túng quẫn đi vì trốn lính”, đánh vợ bằng chiếc thắt lưng lính ngụy”.
Xem ra nhân vật anh đánh cá cũng được đồng nhất như một loại “xe hỏng”,
“người hỏng” nữa. Tóm lại, theo nhà văn, câu chuyện gia đình bi đát ấy
là hậu quả ở miền Nam sau chiến tranh! Miêu tả hiện thực như vậy là mang
sẵn định kiến, thành kiến, chưa phải là nhà văn hiện thực khách quan và
sâu sắc.


Văn học hiện thực có bổn phận miêu tả và lý giải
được hiện thực. Nhà văn đã tự mâu thuẫn, lúng túng với thể loại truyện
ngắn vốn có khả năng miêu tả và lý giải ưu thế hơn mọi loại hình nghệ
thuật khác. Huống chi, chưa nói, nhiếp ảnh lại bị nhà văn khinh rẻ oan
khuất.


Xét về nghệ thuật đặt tên nhân vật, nhân vật
chính là nhà báo Phùng và anh chánh án Đẩu có cái tên xác định. Hai nhân
vật vợ chồng hàng chài chỉ là “người đàn ông, người đàn bà và “đứa con gái đang lớn” vô danh. Ba con người này chỉ là chất liệu, sự kiện
chứ không phải nhân vật (ngoại lệ thằng bé có cái tên Phác). Nghệ thuật
đặt tên nhân vật của Nguyễn Minh Châu cho thấy truyện ngắn nhằm vào hai
nhân vật chính là nhà báo và chánh án, tức là chú ý đến luận đề “tuyên
ngôn nghệ thuuật”. Hiện thực của hai vợ chồng nhà chài đau khổ chỉ là
chất liệu, không có số phận, kiểu như “Sở kiến hành” (Những điều trông thấy) của Nguyễn Du tả ba mẹ con đi ăn xin, “Thạch hào lại
của Đỗ Phủ tả cả một gia đình trốn lính, các nhân vật đều không có tên.
Tả hiện thực đấy nhưng lại ở trong thơ trữ tình, nhân vật chính là nhà
thơ Nguyễn Du và Đỗ Phủ.


Nguyễn Minh Châu viết truyện này năm 1983. Suốt
thời chiến tranh ông chỉ đi thực tế khu 4 và đi dọc đường Trường Sơn,
sâu nhất là Quảng Trị, Đường 9 Nam Lào, … chưa có dịp thấu hiểu miền
Nam. Sau 1975 ông cũng chỉ đi công tác, thăm thú miền Nam, kiểu cưỡi
ngựa xem hoa, cũng chưa thể hiểu thực tế miền Nam đủ để viết tiểu thuyết
hậu chiến.


Tiếc thay, nhà văn qua đời năm 1989, nếu ông còn
sống đến nay (đầu thế kỷ 21) ắt sẽ được biết nhiều cảnh bạo hành gia
đình rải rác khắp cả nước, báo chí đăng tải hà rầm, đó là tệ nạn xã hội
trong hoàn cảnh kinh tế người lao động còn thấp. Nhưng ông lại kể chuyện
bạo hành gia đình trong “Chiếc thuyền ngoài xa” như một vấn đề lịch sử,
vấn đề miền Nam. Tiếc thay đến năm 2007, Bộ Giáo dục lại chọn “Chiếc
thuyền ngoài xa” vào sách Văn 12 – một cuốn sách kinh điển cho thế hệ
trẻ.


Đến nay nhìn lại, những tác phẩm Nguyễn Minh Châu
viết về chiến tranh trước năm 1975 chẳng còn giá trị được bao nhiêu,
may chăng vớt vát còn truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng” viết khéo tay,
thực ra là một bài thơ văn xuôi hơn là một truyện ngắn (trong tập truyện
ngắn “Những vùng trời khác nhau”, xuất bản năm 1970), mở đầu cuộc Đổi
Mới ngoạn mục của văn học đương đại, sau đó tập truyện “Bến quê”, hơn là
một truyện ngắn. Thực chất ông bắt đầu nổi tiếng là từ các truyện ngắn
“Bức tranh”, “Khách ở quê ra”, “Cỏ lau”… và đặc biệt bài tùy bút “Hãy nói lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”.
Nghĩa là, đến giai đoạn Đổi mới ông mới đem lại cho văn chương những
tác phẩm giá trị. Nhà soạn sách giáo khoa chưa dám mạnh dạn ghi nhận như
vậy mà vẫn lan man kể lể các tác phẩm yếu kém của ông trong chiến tranh
trong sách giáo khoa 12.


Tôi dự đoán, các bạn đồng nghiệp dạy Văn trung
học phổ thông khó tránh khỏi lúng túng khi hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh
tác phẩm phức tạp và đầy mâu thuẫn này.


PHN


Chú thích: Chúng tôi phân tích “Chiếc thuyền
ngoài xa” căn cứ trên Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập Hai, sách nâng cao,
Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2008, trang 89.


Phụ lục:


Chiếc thuyền ngoài xa


Trưởng phòng tôi là người sâu sắc, lại cũng lắm
sáng kiến đến cái mức có khi bọn chúng tôi trong cơ quan phát mệt vì
anh. Trước đây chừng dăm tháng, để chuẩn bị cho tấm lịch năm sau, anh tỏ
ý không bằng lòng với cách làm ăn từ trước tới giờ – Sang năm chúng ta
sẽ đem đến cho mỗi gia đình một bộ sưu tập chuyên đề về thuyền và biển –
anh nói quả quyết – Thôi, bỏ cái lối mỗi thứ một tí đi. Phải có một bộ
sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển.
Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật.


Chúng tôi xách máy lên đường, suy nghĩ, chọn
cảnh, bấm máy suốt năm tháng. Và tất cả những gì thu được bằng ánh sáng
đen trắng trên giấy ảnh đang được bày ra la liệt trên hai chiếc bàn ghép
lại, và quả tình lúc đó tôi đã lấy làm bằng lòng lắm, đoán chắc không
còn phải xách máy đi chụp bổ sung như mọi năm nữa.


Làn khói thuốc lá cuộn phun ra mù mịt trước cặp
mắt đầy tinh khôn của trưởng phòng đang nheo lại sau mắt kính lão. Đột
nhiên trưởng phòng quay sang phía tôi hỏi:


- Bây giờ đã là tháng mấy nhỉ?


- Tháng bảy. – Tôi đáp với một vẻ dè chừng.


- Tháng này ở biển vẫn còn sương chứ?


- Chỉ có bão táp với biển động. Muốn lấy sương thì phải nghĩ đến từ tháng ba cơ.


- Này anh Phùng – trưởng phòng dường như đã nhìn
thấy rõ mọi ý nghĩ ngần ngại của tôi, cho nên anh vừa nói vừa nhăn nhó
cái mặt lộ vẻ đau khổ – tôi cho anh một tháng, một tháng là đủ chứ gì?…
Anh giúp tôi thêm một cảnh buổi sáng có sương đi.


- Trời ơi – tôi nhặt một bức ảnh ngay trong tầm
tay – với hàng trăm bức ảnh đẹp, chụp công phu thế này mà anh… – Đẹp thì
đẹp thực – anh cướp lời tôi – Và nhất là lại có hồn nữa. Đúng là những
bức ảnh nghệ thuật. Nói thực tình năm nay các anh đi về, khác với những
năm khác, tấm nào ít nhiều tôi cũng thích. Nhưng không thể chọn đủ cho
mười hai tháng, vẫn đang còn thiếu một tờ.


Ở đời cái gì cũng thế, con người bản tính vốn
lười biếng, đôi khi mình hãy cứ để cho mình rơi vào hoàn cảnh bị ép buộc
phải làm, không khéo lại làm được một cái gì. Năm ngày sau tôi đã có
mặt ở một vùng biển cách Hà Nội ngoài sáu trăm cây số. Tôi vác máy tới
một dải bờ cát nằm “phục kích” thiên nhiên ở cái khoảng giao điểm ngày
vừa rạng, đêm chưa tắt hẳn, bấy giờ cũng là lúc những chiếc thuyền đánh
cá bằng vó bè hiện ra trong khoảng mờ tỏ của bình minh.


Thực ra đi chuyến này tôi có ý muốn trở về thăm
một vùng chiến trường cũ ở đấy tôi có một thằng bạn vừa là đồng hương,
vừa là đồng đội đã từng mười năm ở với nhau trên rừng A So, trước đây là
một trung đội phó bộ binh nổi tiếng hay đùa tếu và bây giờ, lạy trời, ở
ngay cái vùng biển ấy hắn ta đang làm một thứ công tác… nghiêm túc đến
mức chẳng ai có thể tưởng tượng, chính hắn lại có thể làm nổi, mà trong
thực tế hắn ta đã làm hai ba năm nay chứ không ít. Đời chúng tôi, cái
đám lính của một thời chống Mỹ, từ sau bảy nhăm thật chẳng ít chuyện trớ
trêu và bất ngờ.


Thật ra ở đấy chưa phải là biển mà mới chỉ là một
vùng phá ăn sâu vào đất liền, chạy quanh quất như chơi trò trốn tìm
giữa các thôn, ổ, chợ búa trong một phạm vi hàng mấy chục cây số. Chẳng
phải nói, cái vùng nước mà tôi vừa mới vác máy ảnh đến để chụp bổ sung
cho bộ sưu tập thật là thơ mộng, và nhất là dường như trong suốt dải bờ
biển của khắp cả nước, chỉ ở đây vào giữa tháng bảy là còn sương mù. Nơi
đây, nếu bỏ ra ngoài tầm mắt những bãi xe tăng vứt lại hồi “tháng ba
bẩy nhăm” (bây giờ sau gần mười năm, đã bị hơi nước mặn gặm mòn và làm
cho sét gỉ), vùng phá nước có một cái gì đấy thật là phẳng lặng và tươi
mát như da thịt của mùa thu đang ấp vào tâm hồn anh. Tôi trở nên ngây
ngất vào mỗi buổi sáng, bầu trời không xanh biếc, cao thăm thẳm mà đượm
một sắc giữa xanh và xám, bầu trời như hạ thấp xuống và như ngưng đọng
lại; giữa trời và nước ấy chỉ có một chiếc thuyền của một gia đình làm
nghề vó bè đang tỏa khói bếp giữa phá – chiếc thuyền đứng im như làm
bằng các-tông dán vào cảnh vật êm ả.


Hai ngày đầu, suýt nữa tôi đã quyết định đưa vào
tờ lịch tháng Bảy khung cảnh người ta đẩy một chiếc thuyền xuống nước.
Đó là một chiếc thuyền mới đóng xong vẫn còn thơm mùi gỗ lẫn mùi dầu
rái. Tôi đã chọn được một thằng bé khoảng lên năm có đầy đủ ngoại hình
con trai một nhà hàng chài, lại có cặp mắt thật đen gợi cho tôi nghĩ đến
con mắt người ta vẽ trên đầu mũi thuyền, thằng bé đánh trần, lội ra
đứng giữa những lượn sóng bạc đầu giang tay vứt một nắm phoi bào ra thật
xa. Trong khi đó, ở trên bờ, bố mẹ nó và những người lớn đứng xếp hàng
dọc ghé vai vào hai bên mạn chiếc thuyền mới. Tôi chỉ cần chụp đặc tả
những chiếc vai trần của ngư phủ cùng với một hàng bàn chân to bè của họ
dậm lún vào cát.


Nhưng tôi vội thôi ngay cảnh đẩy thuyền đầy không
khí vui nhộn hơi thô lỗ và thật hùng tráng. Thất bại thấy trước là tôi
đã không làm sao thu được vào ống kính khoảnh khắc chiếc thuyền đập mình
xuống nước làm vỡ tung toé từng đám bọt sóng trắng xoá. Tôi cũng quyết
định thôi không lấy cảnh sương và cát như trưởng phòng ở nhà đã gợi ý,
mặc dầu có những đêm thật lý thú, tôi ra ngủ ngay giữa bãi cát ven bờ
phá, theo lời rủ rê của một thằng bé mặt mũi xấu xí nhưng có một trí nhớ
khác thường, quần áo dính đầy nhựa cây, nó là đứa cháu ngoại của một
ông lão làm nghề sơn tràng ở tận trên miền rừng A So, hai ông cháu lái
một chiếc xe Reo của gia đình chở gỗ về bán cho xưởng đóng thuyền. Trong
những đêm như thế, thằng nhóc tận trên rừng xuống và tôi như hai nhà
hiền triết nằm kê đầu trên mười ngón tay đan vào nhau, nằm ngửa sóng đôi
bên nhau, mắt nhìn đăm đăm vào khoảng mờ trắng của sương đêm, cùng hồi
hộp chờ một tiếng vạc rất nhỏ kêu thảng thốt trong bầu sương tít trên
cao, nghe như vọng về từ một thời hồng hoang nào đó, cái thời chung
quanh vùng biển này chỉ có lau lách và tiếng sóng vỗ, chưa có người.


Thế rồi cuối cùng, tìm đi kiếm lại, vác máy ảnh
tha thẩn suốt một tuần lễ, tôi quyết định thu vào tờ lịch tháng Bảy của
năm sau cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào lúc nhập nhoạng sáng. Ai đã cầm
máy ảnh có kinh nghiệm đều biết đó là một cảnh chết cháy – một đề tài
đã có quá nhiều người khai thác, đã từng để lại những bức ảnh thật đẹp,
đầy chất thơ của những người cầm máy ảnh có tên tuổi.


Cái gì đã xui khiến tôi tự thách thức bằng cái
việc mạo hiểm ấy? Có lẽ trước hết, không phải do sự hấp dẫn của hình ảnh
mà chính là những tiếng động đầy vẻ náo nhiệt ở cách xa hàng cây số
cũng nghe tiếng của một nhóm thuyền đánh cá đêm bằng vó bè. Tôi chỉ được
nghe cái âm thanh của sự làm ăn có cái gì như ma quái ấy vào những đêm
thật tối trời và chỉ được nghe thấy vào quãng gần sáng, vào lúc mà thằng
Phác – thằng bé từ trên rừng “hạ sơn” xuống đã nép vào sườn tôi ngủ say
như chết sau khi nó cặn kẽ giải thích cho tôi nghe cuộc sống của những
giống chim trên rừng, trước mùa thu, trước mùa giá rét rất lâu, chúng đã
nháo nhác rời tổ xây trên các lùm cây dẻ um tùm để làm những cuộc di
cư.


Không phải ngay trong mấy ngày đầu mới đến mà về
sau, khi đã chụp trọn gần một cuốn phim, tôi mới có dịp hiểu đôi chút về
cách làm ăn lâu đời của những “tổ hợp tác” gồm những chiếc thuyền đánh
cá không có bến này. Bao giờ họ cũng chỉ liên kết với nhau chỉ trong một
đêm hoặc một ngày chứ không lâu. Thường thường mỗi thuyền là một gia
đình, ngoài thuyền lớn còn vài chiếc mủng để đi lại. Cuộc sống cứ lênh
đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc
nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương
bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất
nào.


Vào một buổi sáng tôi thức dậy. Đàng đông đã sáng
trắng. Trên một nửa vòm trời sao đã lặn hết. Những đám mây hình vỏ sò
cứ hồng lên dần, trong khi đó, mặt biển tuy đã sáng rõ, đến cái mức đứng
trong bờ cũng nhìn thấy từng đường gấp nếp lăn tăn trên mặt tấm thép
dát màu xám đục, nhưng sao mà tẻ nhạt, tiếng sóng ồ ồ dội vào giấc ngủ
suốt đêm chạy trốn đi đâu hết, biển im thít và không màu sắc, như một
con sứa khổng lồ giạt vào bãi.


Ngay chỗ bãi xe tăng nhìn ra, một nhóm chừng dăm
chiếc thuyền vó vừa tắt đèn. Những chiếc măng sông treo thõng giữa lòng
các tấm lưới đã tắt hết nhưng những đợt tiếng la thét vẫn cứ vang lên.
Đó là đám người đã được phân công làm công việc xua cá vào lưới. Phần
nhiều đàn bà, trẻ con, họ ngồi trên những chiếc mủng lúc nào cũng thả
trôi lượn lờ mé ngoài. Có khi tản mát mỗi nơi một chiếc. Số mủng bất
chợt được tập hợp lại, từ bốn góc hối hả chèo tới. Đến cự ly cách mũi
thuyền chừng trăm mét, tất cả buông chèo vớ lấy hai gióng tre khô vứt
trong lòng mủng gõ ầm ầm, có người dùng ngay bơi chèo gõ vào thành mủng,
tay gõ miệng hét:


- Hới, hới…


Trong mấy cái phút ấy, tôi quỳ một chân trên nền
cát ướt, máy đã đặt sát vào mắt như một người đi săn chỉ rình ít phút
nữa con thú sẽ tuông ra khỏi cánh rừng, tôi chờ cái lúc năm sáu chiếc
lưới vó cùng một lúc từ từ dâng lên.


Tôi bấm máy lia lịa. Qua khuôn hình ánh sáng, tôi
đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba
chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những
giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và
bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực
rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn
thật xa những đường nét


của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom,
sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và
phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng
trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc
gọng lưới chĩa thẳng lên trời.


Nói chung tôi đã tìm được một bố cục chặt chẽ, và
tôi lại có tính duy tâm nghề nghiệp, tôi lại còn tin vào cái ngẫu nhiên
đầy “số đỏ” của tôi nữa. Tôi nghĩ rằng với những tay nhiếp ảnh nghệ
thuật, nếu không có thêm sự sắp đặt đầy tài tình của ngẫu nhiên thì với
tài ba đến bao nhiêu, anh cũng chỉ… thu được những tấm ảnh vô hồn.


Cũng như lúc tụ lại, cái đội hình của sự làm ăn
trôi nổi trên mặt nước tản ra rất nhanh. Đây là mẻ lưới cuối cùng. Trong
nháy mắt, trước mặt tôi chỉ còn một khoảng phá nước trống không.


Lúc bấy giờ trời đầy mù từ ngoài biển bay vào.
Lại lác đác mấy hạt mưa. Tôi rúc vào bên bánh xích của một chiếc xe tăng
để tránh mưa, đang lúi húi thay phim lúc ngẩng lên thấy một chuyện hơi
lạ: một chiếc thuyền lưới vó mà tôi đoán là trong nhóm đánh cá ban nãy
đang chèo thẳng vào trước mặt tôi.


Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi
được thấy một cảnh “đắt” trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức
tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe
nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh
mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc
như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung
cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng
vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh
từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản
và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như
có cái gì bóp thắt vào? Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản
thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính
mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái
khoảnh khắc trong gần tâm hồn.


Chẳng phải lựa chọn xê dịch gì nữa, tôi gác máy
lên bánh xích của chiếc xe tăng hỏng bấm “liên thanh” một hồi hết một
phần tư cuốn phim, thu vào chiếc Pratica cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn
ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại.


Tôi chắc mẩm ngay trong ngày hôm nay hoặc sáng
mai đã có thể nhẩy lên tàu hỏa trở về, nếu cái anh bạn đồng ngũ không cố
níu giữ ở lại chơi thêm vài bữa.


*


* *


Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ
tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền. Họ
phải lội qua một quãng bờ phá nước ngập đến quá đầu gối. Bất giác tôi
nghe người đàn ông nói chõ lên thuyền như quát: “Cứ ngồi nguyên đấy.
Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”.


Chắc chắn họ không trông thấy tôi. Người đàn bà
trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao
lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một
đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. Người đàn
ông đi sau. Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ
quạ.


Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn,
hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng
nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng
của người đàn bà.


Từ chỗ chiếc xe tăng mà tôi đang đứng với chiếc
máy ảnh, đi quá mươi bước sâu vào phía trong có một chiếc xe rà phá mìn
của công binh Mỹ, chiếc xe sơn màu vàng tươi và to lớn gấp đôi một chiếc
xe tăng. Hai người đi qua trước mặt tôi. Họ đi đến bên chiếc xe rà phá
mìn. Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ
chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay
sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống
chân.


Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay,
lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ
như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng
lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới
tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng
nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng
rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông
nhờ!”. Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một
tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy.


Tất cả mọi việc xẩy đến khiến tôi kinh ngạc đến
mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng
biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới.


Bóng một đứa con nít lao qua trước mặt tôi. Tôi
vừa kịp nhận ra thằng Phác – thằng bé trên rừng xuống vừa nằm ngủ với
tôi từ lúc nửa đêm. Thằng bé cứ chạy một mạch, sự giận dữ căng thẳng làm
nó khi chạy qua không nhìn thấy tôi. Như một viên đạn trên đường lao
tới đích đã nhắm, mặc cho tôi gọi nó vẫn không hề ngoảnh lại, nó chạy
tiếp một quãng ngắn giữa những chiếc xe tăng rồi lập tức nhảy xổ vào cái
lão đàn ông. Cũng y hệt người đàn bà, thằng bé của tôi cũng như một
người câm, và đến lúc này tôi biết là nó khỏe đến thế!


Khi tôi chạy đến nơi thì chiếc thắt lưng da đã
nằm trong tay thằng bé, không biết làm thế nào nó đã giằng được chiếc
thắt lưng, liền dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn
ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn
từ rốn mọc ngược lên. Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng
chẳng được nữa, liền giang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến
thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ
nước để trở về thuyền. Không hề quay mặt nhìn lại, chỉ có tảng lưng khum
khum và vạm vỡ càng có vẻ cúi thấp hơn, nom lão như một con gấu đang đi
tìm nguồn nước uống, hai bàn chân chữ bát để lại những vết chân to và
sâu trên bãi cát hoang vắng.


Người đàn bà dường như lúc này mới cảm thấy đau đớn – vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã.


- Phác, con ơi!


Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống
trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy
vái để, rồi lại ôm chầm lấy. Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé
răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua
tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những giòng nước mắt, nó lặng lẽ đưa
mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt
nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt.


Thế rồi bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi
thật nhanh ra khỏi bãi cát xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai
người lại trở về chiếc thuyền. Khoảnh khắc sau, bãi cát lại trở về với
vẻ mênh mông và hoang sơ. Giữa tiếng sóng ngoài khơi dội những tiếng kêu
ồ ồ vào cõi im lặng, chỉ có tôi và thằng bé đứng trơ giữa bãi xe tăng
hỏng, trên tay thằng nhỏ vẫn cầm chiếc thắt lưng, hai chúng tôi đưa mắt
ngơ ngác nhìn ra một quãng bờ phá vừa ban nãy chiếc thuyền đậu. Như
trong câu chuyện cổ đầy quái đản, chiếc thuyền lưới vó đã biến mất.


*


* *


Tôi bước về phía nó. Nhưng thằng bé không cho tôi
lại gần. Tự nhiên thằng nhỏ vô cớ đâm ra thù ghét cả tôi – hết sức thù
ghét, nhìn vào hai con mắt của nó, tôi đọc thấy được điều đó.


Mà tại sao từ trước tới giờ tôi không để ý nhỉ,
lần đầu tiên tôi sực nhận thấy nó chính là một thằng bé vùng biển. Những
món tóc vàng hoe có chỗ đỏ quạch như mớ lưới tơ đã bợt bạt đang tỏa ra
mùi nước mặn che lấp gần hết khuôn trán nhỏ và cặp mắt đầy vẻ ngây thơ,
lúc này chả khác nào cặp mắt của một chú hổ con từ miền rừng vừa lạc về.


Mấy ngày sau thằng Phác đối xử với tôi như một kẻ
hoàn toàn xa lạ, như chưa bao giờ trò chuyện, ngủ chung với tôi. Mỗi
lúc bắt gặp tôi khoác chiếc máy ảnh đi trên bãi cát, nó vẫn nhìn tôi
bằng con mắt âm thầm giấu kín đầy một sự thù ghét – và tôi hiểu rằng tất
cả lỗi lầm của tôi chính là ở chỗ tôi đã trót có dịp biết được tất cả
mọi việc trong nhà nó, cái thằng trẻ con lạ kỳ nhất trần đời.


Tôi đang tìm cách dỗ dành để gần nó, lại bắt đầu
làm quen trở lại với nó một lần nữa, cái chú chó sói con ấy, thì đến là
quá quắt, thằng bé thông minh và dễ thương đã hoàn toàn biến thành một
đứa trẻ độc ác và mất dậy, nó hét lên trước mặt tôi bằng giọng the thé
đầy giận dữ: “Hãy cút đi! Cút đi!”. Chính lúc ấy là lúc chiếc thuyền vó
bè lại hiện ra trong làn sương sớm của một buổi mai, sau lần trước ba
hôm.


Tất cả diễn ra y như lần trước. Chiếc thuyền đâm
vào đúng quãng bờ phá ngày hôm trước – từ đó đi bộ vào bãi xe tăng hỏng
rất gần. Và vẫn như lần trước, người đàn bà lội xuống trước với cái
khuôn mặt cúi gằm xuống, và những bước chân thoăn thoắt đi lên bãi cát.
Nhưng khi lão đàn ông vừa rời thuyền để đuổi theo người đàn bà thì trong
lúc ấy, ngay sau lưng lão, một đứa con gái cũng tượt xuống ở đằng lái,
bơi vào. Đứa con gái trạc 14, 15 tuổi. Đấy là trông vóc người và mái tóc
xõa ngang vai – chứ cũng có thể con gái vùng biển ở cái vóc dạng ấy,
chỉ mới 12, 13. Nó mềm mại và nhanh như một con vượn đen tuyền trong bộ
quần áo đen ướt rượt bó sát vào mình. Trên đôi cẳng rám nắng, con bé
chạy như bay về phía chỗ thằng Phác đứng.


Ngay từ đầu thằng bé hình như muốn tránh giáp mặt
đứa con gái nhưng không thoát, thực sự là đứa con gái lớn hơn và có vẻ
rất khỏe. Hai đứa trẻ vật nhau. Có một lúc thằng Phác vùng ra được khỏi
đứa con gái, định bỏ chạy, nhưng chỉ sau vài sải chân rượt sát ngay sau
lưng, đứa con gái đã nhanh nhẹ giơ tay túm được vạt áo thằng Phác, lôi
giật lại. Đứa con gái – mà tôi đoán là con chị – đã đè ngửa thằng bé ra
giữa bãi cát và đến bây giờ thì tôi mới hiểu, đứa con gái đã rút ra được
từ trong cạp quần đùi của thằng bé một vật sáng loáng. Trời ơi, đó là
một con dao găm.


* *


Đẩu, anh bạn chiến đấu cũ lái Hon-đa đến đón tôi ở
một trạm xá xã. Những người thợ xưởng đóng thuyền đã dìu tôi từ bãi
tăng về đấy chưa đầy một ngày.


Lão chồng – cái lão đàn ông độc ác và tàn nhẫn
nhất thế gian ấy đánh tôi hoàn toàn vì mục đích tự vệ. Tôi nện hắn cũng
đã khiếp. Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải
bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người
lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy
ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh
nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ
và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh.


Đẩu đưa tôi về cơ quan của anh. Cô y tá của cơ
quan tòa án huyện, một cô gái chưa chồng, đã luống tuổi và béo phục
phịch nhận lệnh của thủ trưởng Đẩu mang túi thuốc tới.


Dưới mắt cô y tá, mấy vết thương xoàng trên trán
tôi chả khác nào những vầng hào quang của một người anh hùng. Vừa băng
lại các vết thương cho tôi cô vừa kể lể bằng tất cả giọng phẫn nộ thói
tàn nhẫn của dân đàn ông đánh cá trong vùng địa phương này – do phong
tục để lại.


- Hãm bớt ngọn lửa căm thù xuống bà chị ạ, dù sao
thì đàn ông cũng cần, đôi khi rất cần, dù là chánh án của tòa án huyện,
Đẩu vẫn không chịu bỏ cái thói hay bông phèng.


- Thà tôi chết già, các anh đừng tưởng, thà tôi
làm gái già suốt đời! – Cô y tá luống tuổi cứ chĩa mũi kéo đang kẹp một
dúm bông đã tẩm cồn vào giữa mặt Đẩu. Anh chỉ nhe răng cười. Vừa tha
được tôi về đến nơi là Đẩu đã chúi mũi vào giữa hàng núi hồ sơ. Những vụ
kiện tụng. Những vụ án hình sự lặt vặt cũng có, những vụ nghiêm trọng
cũng có.


Vài ngày sau, những vết thương của tôi đã lên da
non. Ngồi soát lại tất cả những cuốn phim đã chụp, dù sao thì tôi cũng
đã thấy yên tâm về công việc. Tôi tin là nếu chiếc Pratica trung thành
với tôi thì phen này tôi có thể đánh ngã bất kỳ một bức ảnh mô tả phong
cảnh biển nên thơ nào từ trước. Tôi ngỏ ý với Đẩu muốn trở lại cái xưởng
đóng thuyền nằm ngủ giữa trời với thằng bé một tối, trước khi trở về Hà
Nội. Nhưng Đẩu bảo tôi nán lại với anh thêm vài ngày.


Vào một buổi sáng có một chiếc mảng chở hai người đàn bà ghé vào bến tòa án.


Tôi thầm cảm ơn Đẩu đã giữ mình ở nán lại. Nếu
thiếu nữ không đi theo mẹ đến tòa án – người đàn bà mặt rỗ hai lần tôi
giáp mặt trong bãi xe tăng hỏng – thì chắc chắn tôi không thể nhận ra đó
chính là đứa con gái ướt sũng từ đầu đến chân, đã vật nhau với thằng
Phác để tước lấy con dao găm.


Thiếu nữ mảnh dẻ trong tấm áo cánh mầu tím nhạt.
Lại một cặp mắt như cặp mắt của đứa trẻ lên năm mà tôi đã chọn để cầm
vứt một nắm phoi bào ra giữa ngọn sóng bạc đầu – một cặp mắt đen của
chiếc thuyền mới đóng. Tuy chẳng hiểu chút gì về nghệ thuật điện ảnh,
nhưng bất giác tôi cứ nghĩ giá sau này cần một vai như kiểu nàng tiên cá
thì nhất thiết phải chọn người thiếu nữ này. Tôi tự hỏi chẳng lẽ cái
nhan sắc đang độ trẻ con như đúc từ trời biển trong suốt, nên thơ này
lại được tách ra từ da thịt của một người đàn bà hàng chài xấu xí và đau
khổ?


Người đàn bà dặn con gái hãy ở lại dưới thuyền
rồi với dáng đi mệt mỏi, chậm chạp như một bà già, trèo lên những bậc đá
xếp từ bờ phá lên một con đường nhựa đã long lở, hai bên đường phơi đầy
lưới chài, của phố huyện vùng biển.


Người đàn bà vẫn mặc chiếc áo mầu bạc phếch vì
nước mặn, một miếng vá bằng vải xanh bằng bàn tay trên vai, những nốt rỗ
trên mặt có vẻ thưa ra, đứng trong phòng làm việc của Đẩu, tôi nhận ra
ngay mụ. Hôm nay người đàn bà rời chiếc thuyền vó bè “đổ bộ” lên tận đây
theo giấy triệu tập của tòa án huyện.


Đây là lần thứ hai, người đàn bà được Đẩu mời đến về công việc gia đình.


Cũng không phải là lần đầu đến một nơi công sở
nhưng người đàn bà vẫn có vẻ sợ sệt, lúng túng – cái vẻ lúng túng, sợ
sệt mà ngay lúc mụ đứng giữa bãi xe tăng cũng không hề thấy có. Người
đàn bà chỉ quen sống giữa mặt nước vừa đặt chân vào trong phòng đầy bàn
ghế và giấy má liền tìm đến một góc tường để ngồi.


Ngồi sau một chiếc bàn lớn, Đẩu nhổm dậy chỉ chiếc ghế mây trước mặt, cố làm ra vẻ thân mật;


- Chị ngồi lên đây, sao lại thế, hãy ngồi lên chiếc ghế này…


Đẩu phải nói đến lượt thứ hai, mụ mới dám rón rén đến ngồi ghé vào mép chiếc ghế và cố thu người lại.


Đẩu hỏi:


- Thế nào, chị đã nghĩ kỹ chưa?


Người đàn bà ngước lên nhìn Đẩu, rồi lại cúi mặt xuống.


- Thưa đã…


Đẩu gật đầu. Anh đứng dậy. Tự nhiên anh rời chiếc
bàn đến đứng vịn vào lưng ghế người đàn bà ngồi giọng trở nên đầy giận
dữ, khác hẳn với giọng một vị chánh án:


- Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng.
Cả nước không có một người chồng nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn
mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: chị không sống nổi với cái lão đàn ông
vũ phu ấy đâu. Chị nghĩ thế nào?


Người đàn bà hướng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay vái lia lịa:


- Con lạy quí tòa…


- Sao, sao?


- Quí tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…


Lúc bấy giờ tôi đang ngồi giấu mặt sau bức màn
vải hoa ngăn chỗ làm việc bên ngoài và phòng ngủ bên trong của Đẩu. Sau
câu nói của người đàn bà, tôi cảm thấy gian phòng ngủ lồng lộng gió biển
của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá. Tôi vén
lá màn bước ra.


Người đàn bà nhận ra được tôi ngay. Mụ nhấp nhổm
xoay quanh chiếc ghế như bị kiến đốt, và về sau tôi mới sực nghĩ ra, mụ
nghĩ rằng tòa án đã bố trí sẵn tôi ngồi phía sau để chuẩn bị làm nhân
chứng.


- Chị cứ ngồi nguyên đấy! – Đẩu nói và với vẻ đầy
hào hứng của một con người bảo vệ công lý vừa có thêm người đến tiếp
viện, anh chạy sang phòng bên xách một chiếc ghế cho tôi. Bấy giờ dưới
con mắt của người đàn bà hàng chài, vị chánh án không phải là Đẩu đã trở
về ngồi sau chiếc bàn lớn mà là tôi, với mấy vết thương đã lên da non
nhưng vẫn để dấu vết trên mặt.


- Tùy bà! – Đẩu thay đổi cách xưng hô, khoác lên
mình cái cung cách bề ngoài của một vị chánh án – chủ trương nguyên tắc
của chúng tôi là kêu gọi hòa thuận…


Đang ngồi cúi xuống, người đàn bà bỗng ngẩng lên nhìn thẳng vào chúng tôi, lần lượt từng người một, với một vẻ ban đầu ngơ ngác.


- Chị cám ơn các chú! – Người đàn bà đột nhiên
thốt lên bằng một giọng khẩn thiết – Đây là chị nói thành thực, chị cám
ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…
cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ,
khó nhọc…


Chỉ mấy lời mào đầu ấy, người đàn bà đã mất hết cái vẻ ngoài khúm núm, sợ sệt. Điệu bộ khác, ngôn ngữ khác.


Cũng phải nói thật, những lời ấy, nhất là đấy lại
là lời một người đàn bà khốn khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi.
Dầu mặt hãy còn trẻ, Đẩu cũng là một chánh án huyện. Còn tôi, một người
đáng lẽ mụ phải biết ơn…


Nhưng người đàn bà để lộ ra cái vẻ sắc sảo chỉ
đến thế, chỉ vừa đủ để kích thích trí tò mò của chúng tôi. Mụ đưa cặp
mắt đầy vẻ mệt mỏi nhìn ra ngoài bờ phá bên kia con đường chính của phố
huyện ở đấy, thiếu nữ mặc áo tím vẫn ngồi đợi mụ trên chiếc mủng.


Trong phút chốc, ngồi trước mặt chúng tôi lại vẫn
là một người đàn bà lúng túng, đầy sợ sệt, nhưng có vẻ thông cảm với
chúng tôi hơn. Mụ bắt đầu kể:


- Từ nhỏ tuổi tôi đã là một đứa con gái xấu, lại
rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa. Hồi bấy giờ nhà tôi còn khá giả, nhà
tôi trước ở trong cái phố này. Cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi
có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi
mua bả (1) về đan lưới. Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục
tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi.


Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:


- Giá tôi đẻ ít đi hoặc chúng tôi sắm được một
chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia
vào các vụ bắc (2), ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ
chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…


- Lão ấy trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không?- Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.


- Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì
trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt – nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền
đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.


- Vậy sao không lên bờ mà ở – Đẩu hỏi.


- Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được
cái nghề thuyền lưới vó ? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho
nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!


- Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? – Tôi hỏi.


- Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra
đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì
tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa
tôi lên bờ mà đánh…


- Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! – Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.


- Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa
bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một
chiếc thuyền không có đàn ông…


- Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, – bất ngờ Đẩu
trút một tiếng thở dài đầy chua chát, – trên thuyền phải có một người
đàn ông… dù hắn man rợ, tàn bạo?


- Phải – Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?


Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:


- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn
bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống
phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên
dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con
cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền
chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất
được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi
bỏ nó! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như
một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái
chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.


- Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? Đột nhiên tôi hỏi.


- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…


Viên chánh án huyện rời chiếc bàn xếp đến phát
ngốt lên những chồng hồ sơ, giấy má. Đẩu đi đi lại lại trong phòng, hai
tay thọc sâu vào hai bên túi chiếc quần quân phục đã cũ. Một cái gì mới
vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này
trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ.


Người đàn bà đã khóc khi nghe tôi nhắc đến thằng
Phác. Nhưng tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm
trong việc hiểu thấu cái lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt
ra bề ngoài. Trong cái đám con cái đông đúc đang sống ở dưới thuyền, mụ
không yêu một đứa nào bằng thằng Phác, cái thằng con từ tính khí đến mặt
mũi giống như lột ra từ cái lão đàn ông đã từng hành hạ mụ, và không
khéo sẽ còn hành hạ mụ cho đến khi chết – nếu không có cách mạng về.


Mụ cho chúng tôi biết, vì sợ thằng bé có thể làm
điều gì dại dột đối với bố nó, mụ đã phải gửi nó lên rừng nhờ bố mình
nuôi đã nửa năm nay. ở với ông ngoại, thằng bé sướng hơn ở trên thuyền
với bố mẹ. Nhưng hễ rời ra là nó trốn về. Thằng bé tuyên bố với các bác ở
xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị
đánh.


Chiều hôm ấy trong khi Đẩu gặp lão đàn ông để
giáo dục răn dạy lão thì tôi trở lại xưởng đóng thuyền. Vắng thằng Phác,
dù sao cái bãi cát cũng như cả vùng phá nước trở nên trống trải thế nào
ấy.


Đêm, những đàn chim di cư vẫn vỗ cánh trong
sương, bay qua vùng phá. Tôi khoác chiếc máy ảnh đi lang thang cho đến
tận khuya, đã mỏi cả chân, tôi đến ngồi bên một ngọn lửa. Nhím phoi bào
bắt cháy sang mấy cái đầu mẩu gỗ cưa ra từ các lẻ ván của một chiếc
thuyền mới vớt lên được, sau vụ đắm thuyền trong vụ bắc năm ngoái.


Gần sáng trời trở gió đột ngột, từng tảng mây đen
xếp ngổn ngang trên mặt biển đen ngòm, và biển bắt đầu gào thét, sóng
bạc đầu ngoài cửa lạch nổi cồn lên cao như những ngọn núi tuyết trắng.


Trong phá, các thứ tầu thuyền đều tìm vào bờ để
trú, duy ở giữa phá chẳng hiểu vì sao vẫn còn thấy một chiếc thuyền vó
bè đang đậu.


Gió rú ào ào chung quanh chiếc xe Reo vừa mới ở
trên rừng xuống, chưa giỡ gỗ xuống hết. Cái ông lão đã ngoài sáu mươi mà
vẫn còn theo đuổi nghề sơn tràng đang ngồi bên bếp lửa giữa trời, vẫn
đặt hai con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền.


Cái bếp lửa cũng bị gió ném tung ra khắp bãi cát,
những tàn lửa đỏ rực bay quẩn lên chung quanh chỗ tôi và ông lão ngồi.
Tôi xem lại xoong cơm đã sống nhăn hộ ông lão, đoạn gào lên:


- Chiều gió này không khéo bão cấp 11 rồi?


- ừ, ừ… ! – Ông lão lẩm bẩm, vẫn không rời mắt khỏi chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá.


*


* *


Những tấm ảnh tôi mang về, đã được chọn lấy một tấm. Trưởng phòng rất bằng lòng về tôi.


Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về
sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong
các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi
lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai
lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao
giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một
người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo
bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng
vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên
mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.


8-1983





Share on Google Plus

About Unknown

Bài viết này được chia sẻ bởi Unknown.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét