Đặng Văn Sinh
PHẦN BA
Vĩ thanh
1
Năm chín hai, làng Cùa xảy ra mấy sự kiện lớn làm
cả vùng Ba Tổng xôn xao. Sự kiện thứ nhất là Trịnh Doãng được con trai
bảo lãnh sang Pháp làm một chuyến du lịch mấy tháng. Chuyện bắt đầu từ
việc thằng Dõng đi bộ đội được một thời gian thì có tin đồn là mất tích.
Mất tích hay đầu hàng địch? Không ai bảo ai, từ cán bộ đến xã viên đều
mặc nhiên nhìn vợ chồng hắn như là bố mẹ của kẻ phản bội.
Ban đêm, thỉnh thoảng thức giấc linh tính mách cho hắn biết, hình như có kẻ nào đó rình mò sau nhà.
- Mặc mẹ chúng mày! – Doãng chửi đổng – Có giỏi thì ngày nào cũng đến đây canh trộm cho ông.
Nói thế nhưng hắn cũng mài sẵn cây mác, rót thêm dầu vào chiếc đèn ló đề phòng bất trắc.
Giải phóng miền Nam được ba tháng, thanh niên Ba
Tổng, trừ những trường hợp có giấy báo tử đều lần lượt kéo nhau về. Anh
nào cũng mang theo chiếc khung xe đạp và con búp bê nhựa to đùng nhưng
khá xấu. Riêng thằng Dõng, hết năm bảy lăm qua năm bảy sáu vẫn bặt vô âm
tín, cứ vài tuần Doãng lại đạp xe lên huyện đội hỏi, lần nào cũng vậy
người cán bộ chính sách trả lời Chưa xác minh được. Tuy không nói
ra nhưng Doãng cho rằng nó đã hy sinh mà đồng đội không tìm thấy xác.
Thật khổ cho nó. Con người ta chết được công nhận liệt sĩ còn con mình
chết sao mà mờ ám thế?
Những ngày tháng chờ đợi càng dài niềm hy vọng
của Doãng càng vơi. Gặp người làng nếu ai vô tình gợi đến chuyện ấy là
hắn nổi cáu:
- Ông đừng có mà xỏ xiên, nay mai người ta cấp bằng liệt sĩ cho thằng Dõng rồi khối đứa trắng mắt ra.
Doãng già đi trông thấy. Chưa đến bốn lăm mà tóc
đã lốm đốm hoa râm, khuôn mặt nhằng nhịt những vết tàn nhang, bình
thường vốn đã khó coi giờ nhăn nhúm như chiếc bị rách trông càng hãm
tài. Đã thế cặp môi cá ngão dày hơn mức bình thường càng ngày thêm càng
giẩu ra đẩy lưỡi về phía sau làm hắn nói rất khó khăn. Thỉnh thoảng
Doãng lại hỏi thằng Dung:
- Mày gặp các ông chỉ huy đơn vị thằng Dõng người ta bảo thế nào?
- Con đã nói rồi, thày cứ hỏi mãi. Họ bảo anh ấy có khả năng bị địch bắt rồi chúng thủ tiêu.
- Thế có khốn nạn không cơ chứ. – Doãng thở dài
thườn thượt – Đợi ít lâu nữa tao với mày vào trong ấy xem sao. Chẳng nhẽ
họ lại vô trách nhiệm với người lính đến như thế.
- Được rồi con đi. – Thằng Dung nhấm nhẳng – Nhưng thầy phải cưới cưới cái Nụ cho con.
- Mày ra điều kiện cho tao đấy hả?- Doãng nói lập bập – Con với cái.
Tiếp đó là hơn chục năm hợp tác xã nông nghiệp
làm ăn thất bát. Làng Cùa xơ xác. Đói bụng đầu gối phải bò. Hơn bốn chục
gia đình dắt díu nhau vào tận Đắk Lắc khai hoang trồng sắn để tự cứu mình trước khi trời cứu
như ông Tổng Bí thư đã khuyến cáo. Lũ con Trịnh Doãng lấy vợ ra ở riêng
chẳng thằng nào theo nghề của bố. Thằng Dung kiếm được ít vốn chạy
tuyến biên giới buôn hàng Trung Quốc. Thằng Dị cùng với mấy anh bạn đấu
thầu khu đồng trũng gần rừng Hóp thả cá và nuôi vịt đẻ. Riêng thằng Dọi
không chịu cảnh đất chật người đông chỉ độc canh cây lúa dắt vợ lên Tây
Bắc lập nghiệp. Doãng vẫn túc tắc thả ống lươn kiếm đồng ra đồng vào. Có
điều bí mật công nghệ đã bị đánh cắp, làng Cùa hình thành đội ngũ đánh
bắt loại bò sát da trơn khá đông đảo, chuyên cung cấp hàng cho con buôn
mang lên cửa khẩu Móng Cái, thành ra lươn ít dần có nguy cơ tuyệt chủng.
Một hôm ngồi nhắm rượu với lươn om bên cạnh bà vợ kém mắt, Doãng than
thở:
- Nghề của tôi mạt vận đến nơi rồi bà ạ.
Giữa năm, Doãng nhận được thư của thằng Dõng từ
Pháp gửi về. Vậy là nó còn sống nhưng sao lại theo bọn thực dân đế quốc?
Doãng giận lắm định xé thư đi nhưng thằng Dung ngăn lại:
- Thầy nóng tính quá, cứ đọc hết đi xem anh ấy nói gì đã.
Doãng lườm con:
- Nó bỉ mặt tao. Chuyện này mà lộ ra thì nhục với cả làng.
Dung càng đọc mặt ông bố càng tươi tỉnh. Hoá ra chuyện cũng đơn giản chứ không phức tạp như Doãng nghĩ.
Cuối năm bảy tư, trong trận đụng độ với một tiểu
đoàn lính thuỷ đánh bộ ở căn cứ Phước Tân, đại đội mười hai bị đơn vị
thiện chiến này gây tổn thất nặng. Trung đội của Dõng toàn lính mới, tuy
chiến đấu dũng cảm nhưng chưa có kinh nghiệm đối phó với địch ở địa
hình bán sơn địa phức tạp nên hy sinh khá nhiều, số còn lại, trong đó có
Trịnh Dõng bị trực thăng hốt, đưa về trại giam Phước Lộc. Hàng ngày
lính ta phải lên rừng chặt gỗ khai thác đá ở sườn núi Ông Tượng. Một lần
đi làm, nhận thấy bọn quân cảnh giám sát có phần lỏng lẻo, nhóm sơn
tràng của Dõng đánh bị thương một tên, trói hai tên khác, nhét giẻ vào
mồm rồi rủ nhau trốn vào rừng. Bọn quân cảnh truy đuổi ráo riết, ngay
đêm hôm ấy tất cả đều bị bắt lại. Thằng Dõng nhận hết về mình, như thế
có nghĩa là chấp nhận hình phạt xử bắn. Viên Trung tá giám thị, người
gốc Phát Diệm, thấy gã Việt Cộng trẻ măng, lanh lợi, lại có hành động
nghĩa hiệp, trong lòng phục lắm, gợi ý:
- Tôi có thể miễn tội chết cho cậu nhưng với một điều kiện.
- Điều kiện gì? – Dõng nhìn viên giám thị đầy vẻ cảnh giác, hỏi cộc lốc.
- Đơn giản thôi, làm lính hầu cho tôi.
Dõng ngẫm nghĩ một thoáng rồi gật đầu:
- Tôi chấp nhận nhưng không được bắn những người kia.
- Cậu là thằng đầu têu mà tôi còn tha huống hồ anh em khác.
Cuối tháng chạp tay Trung tá có dự cảm cuộc chiến
sắp tàn, chế độ Sài Gòn khó mà trụ vững được nếu không thoát ra mau tất
sẽ phải chung cảnh đắm tàu, bèn xin giải ngũ đem cả gia đình sang Pháp.
Ông ta bảo Trịnh Dõng :
- Cậu được tự do nhưng theo tôi nên xác lập cho mình một tương lai chắc chắn ngay từ bây giờ.
- Trung tá nói sao?
- Từ nay đến lúc kết thúc chiến tranh không ai
biết được chuyện gì xảy ra với những tù binh như cậu, cho nên, tốt nhất
hãy di tản cùng chúng tôi.
- Nhưng còn bố mẹ, anh em tôi ở miền Bắc?
- Nhà cậu vẫn còn ba gã con trai đúng không? –
Viên giám thị kiên nhẫn thuyết phục – Vả lại, Bắc Việt đang đói và còn
rất lâu mới thoát ra khỏi ảnh hưởng tai hại của cuộc chiến chó chết này.
Khi đã có chút ít tài sản trong tay, về nước lúc nào chẳng được.
Nghe ông ta tán, thấy cũng có lý, Dõng gật đầu:
- Thì cứ thử một chuyến xem sao. Ông bố tôi suốt
đời làm nghề thả ống lươn, có lẽ nằm mơ cũng không dám nghĩ đến chuyện
sang Pháp.
Sau mười tám năm tha hương, Dõng biết quê nhà đã
có nhiều thay đổi. Chính quyền không còn định kiến với những người vì
hoàn cảnh bắt buộc phải rời Tổ quốc kiếm sống ở phương trời xa. Nó dự
định về thăm làng Cùa.
Mấy tháng sau, Dõng đưa vợ con về thật. Vợ nó
chính là con gái út viên Trung tá giám thị trại tù binh Phước Lộc năm
xưa. Vợ chồng Dõng ở nhà một tháng. Nó biếu họ hàng, làng xóm quà cáp
chu đáo, giúp vốn các em làm ăn và cho bố mẹ đủ số tiền xây một căn nhà
hai tầng đẹp nhất vùng Ba Tổng. Trước khi về Pháp, Dõng ra uỷ ban xin
góp năm ngàn đô la để xây trạm xá. Chủ tịch xã Đoàn Kết bấy giờ là
Nguyễn Đình Quyết con trai ông Nguyễn Đình Phán chỉ xấp xỉ tuổi thằng
Dõng. Anh này tốt nghiệp đại học Nông nghiệp khoa quản lý ruộng đất mới
trúng cử hội đồng nhân dân khoá mười hai hồi đầu năm.
Trịnh Dõng đương nhiên thành Việt kiều yêu nước.
Lão Doãng bao nhiêu năm vì cái nghi án mất tích của con trai, nay được
nở mày nở mặt với hàng tổng, trong lòng vô cùng tự đắc. Sau tết nguyên
đán Dõng gửi giấy bảo lãnh cho bố sang Pháp chơi mấy tháng. Lão đến
Paris cứ như người từ hành tinh khác xuống vậy. Gặp cái gì lạ lão cũng ồ, à chẳng khác gì dân làng Cùa ra thành phố nhìn thấy bọn mannequin([1])
ăn mặc hở hang trong cửa hàng may đo. Thằng Dõng là chủ cửa hàng cơm
bình dân với những món ăn thuần tuý Việt Nam, nổi tiếng nhất là lươn,
ếch, ba ba. Lão không thể hiểu, ở cái xứ sở cách quê nhà cả chục ngàn
cây số, quanh năm giá lạnh này mà chúng vẫn kiếm ra được những thùng
lươn béo mẫm phục vụ khẩu vị của các thượng đế tha hương. Sang đây với
con, Doãng đâm ra nghiện món bánh mỳ sốt vang thịt bò. Người lão đẫy ra.
Những vết rỗ nhằng nhịt hình như đang lặn dần. Khuôn mặt nhăn nhúm vốn
rất khó coi của lão giờ dãn ra bóng nhẫy, linh động đầy sinh khí. Hết đi
thăm các danh lam thắng cảnh, lại ở nhà mở máy thu hình (Toàn chữ Tây
người Tây) xem mãi cũng chán, Doãng đòi về. Vợ chồng Dõng giữ mãi không
được đành phải chiều ông bố trái tính. Trước khi lên máy bay, Dõng đưa
cho ông lão thả ống lươn ít tiền tiêu vặt, còn lại nó gửi theo lối phát
nhanh để đảm bảo an toàn. Về đến nhà, như lời thằng Dõng dặn, Doãng
trích ra năm ngàn đô la tặng xã để xây trụ sở theo gợi ý của chủ tịch
Nguyễn Đình Quyết. Số tiền còn lại lão bàn với vợ đem gửi ngân hàng lấy
lãi. Từ đấy Trịnh Doãng bỏ hẳn nghề thả ống lươn.
Trụ sở Uỷ ban xã xây hai tầng mặt tiền ốp cẩm
thạch, mái chóp đẹp nhất huyện Nam Thành. Để ghi nhớ công lao của Trịnh
Doãng có được người con trai làm vẻ vang cho quê hương, Chủ tịch Nguyễn
Đình Quyết đề nghị dựng tượng lão ở phía sau khuôn viên. Công trình hoàn
tất, rất nhiều người đến xem và bình phẩm. Đó là một hình người thô
kệch bằng chất liệu bê tông cốt thép, đứng ưỡn ngực trên bệ cao chiềng
ra trước thiên hạ bộ mặt vênh váo do nhà điêu khắc Quang Đệ nổi tiếng
lãng tử của Hội văn nghệ tỉnh sáng tác.
Dạo này bụng Trịnh Doãng mỗi ngày một to vì sâm
nhung và các món cao lương mỹ vị. Bởi thế, sáng nào lão thả ống lươn
cũng cưỡi chiếc xe Peugeot([2])
cánh trả qua lối cổng chùa Vĩnh Hưng lên đường trục liên xã sang Phố
Phủ làm vại bia cỏ, bát tiết canh và tô phở bò. Vừa ăn Doãng vừa thả lời
ong buớm tán tỉnh bà chủ quán phốp pháp tuổi cỡ tứ tuần có cặp mắt đa
tình. Trên đường về lão ghé vào quán chị Nhài mua cho vợ cặp bánh dày
giò rồi đạp xe chậm rãi như người tập thể dục dưỡng sinh. Đến trụ sở uỷ
ban thế nào lão cũng vòng ra phía sau vườn ngắm tượng của mình, có lần
ngắm xong lão chép miệng bảo:
- Cái tay Quang Đệ rượu vào nói phét một tấc đến giời. Tượng chẳng giống mình tý nào. Thật phí tiền.
2
Sự kiện thứ hai là Thứ trưởng Lê Văn Nghiên về
làm giỗ bố. Anh ta ngồi trên chiếc Toyota đời mới có cả thư ký riêng và
vệ sĩ đi kèm. Hồi cuối năm ngoái, Nghiên đã cử người mang tiền về xây
cho mẹ và anh ngôi nhà ba tầng ở đồng Chó Đá. Ngôi nhà thiết kế theo
kiểu biệt thự Pháp thế kỷ mười chín, xung quanh có tường bao rất nổi
nhưng lại khá lạc lõng ở một xóm nghèo người ở lẫn với ma trong những
căn hộ lụp xụp, lợp rạ, tường trình bằng đất sét. Quan khách khá đông,
phần lớn là ở Hà Nội về, toàn xe hơi xịn. Về phía địa phương, ông Thứ
trưởng mời toàn bộ ban thường vụ tỉnh uỷ, ban thường vụ huyện uỷ và tất
cả các chức sắc xã Đoàn Kết. Những ông này phần lớn là người làng Cùa.
Mấy hôm trước mưa to, đường làng toàn đất thó, nhão nhoét như cháo bột,
có chỗ ngập sâu đến bụng chân lổn nhổn những gạch vỡ, vỏ ốc với phân
trâu bò tạo thành một thứ hỗn hợp đặc biệt bốc mùi khó chịu, mới ngửi
thấy đã phát lộn mửa. Có thể nói, những trục giao thông chính của làng
Cùa lúc này đã biến thành các con kênh bùn vì vậy, tất cả các phương
tiện sang trọng đều phải để ở sân đình, quan khách nhất loại tháo giầy
vén quần lội ra đồng Chó Đá.
Sau ba mươi bảy năm dịp này anh em họ Lê mới cải
táng cho bố. Việc sang cát đáng lẽ được làm từ năm sáu tư. Lần ấy bà Hài
đi chợ Cháy nhờ một thầy phong thuỷ xem hộ thế đất. Ông này mới đi tù
về vì tội hành nghề mê tín dị đoan, xua tay chối bai bải:
- Bà về đi. Tôi giải nghệ rồi. Công an họ nhìn thấy thì chết.
Bà Hài phải đặt lễ hai đồng bạc, nói bã bọt mép ông ta mới chấp thuận.
- Bà chỉ cần nói ngày tháng năm sinh, năm mất và quê quán của ông nhà để tôi đoán xem sao đã.
- Dạ thưa thầy, nhà tôi tuổi Ất Mão, sinh tháng tư, ngày mười bẩy, giờ Dần, mất ngày mùng bẩy, tháng giêng năm Ất Mùi.
Ông thầy bấm đốt ngón tay tính toán một lúc rồi phán:
- Tôi đoán không nhầm thì người này bị hàm oan,
bất đắc kỳ tử, cải táng lúc này không có lợi vì uất khí tích tụ lâu ngày
chưa giải được, động vào sẽ bị thương tổn.
Đêm hôm ấy vào khoảng canh ba bà Hài đang thiu
thiu chợt thấy một người mặc bộ bà ba nâu ngang lưng đeo khẩu pạc hoọc
đi đôi giầy da cao cổ, đẩy cửa mạch lẻn vào. Bà ta sợ quá định kêu lên
thì người ấy bảo:
- Vận đây mà, mình không nhận ra tôi sao?
- Ông đi đâu chừng ấy năm bây giờ mới về?
- Vẫn quanh quẩn ở đồng Đấu thôi. – Bóng ma thong
thả nói – Tôi về báo để mình biết, chỗ ở hiện nay đang yên ổn, chưa nên
rời đi nơi khác, đến năm Nhâm Thân hãy thay áo cho tôi.
Nằm dưới đất gần bốn mươi năm nhưng hài cốt của
Lê Văn Vận vẫn còn nguyên vẹn, đen bóng như sừng trừ chiếc xương quai
hàm bị vỡ vì trúng đạn. Công việc hoàn tất trước bốn giờ sáng do Trịnh
Doãng chủ trì. Lão làm việc này không phải vì lợi mà vì nghĩa bởi thuở
còn hàn vi Doãng và Nghiên đã có mấy năm cùng thổi kèn đám ma, cay đắng
ngọt bùi đã từng nếm trải. Doãng phục Nghiên vì anh ta có học, soạn điếu
văn nổi tiếng, sống với anh em rất có tình còn Nghiên quý tay thả ống
lươn là người bộc trực có gì nói nấy, trọng nghĩa khí, khinh tiền của,
không chịu khuất phục cường quyền.
Ngôi mộ Lê Văn Vận nằm bên cạnh ngôi mộ bà Hai
Thoả đã được chuyển về từ đồng Mả Dứa làng Tảo An năm Kỷ Hợi, nằm ở góc
nghĩa địa đồng Chó Đá, xét về quy mô, thì nhỏ hơn nhiều so với những
công trình đồ sộ của cha mẹ các trọc phú làng Cùa mới nổi lên mấy năm
gần đây, nhưng lại được xây dựng rất có khiếu thẩm mỹ, vừa thanh thoát
vừa thể hiện được lối kiến trúc Á Đông truyền thống. Trên phiến cẩm
thạch ốp mặt trên, giữa nền hoa văn, khắc chìm dòng chữ rất đậm:
Ông Lê Văn Vận
Sinh ngày 30 tháng 5 năm 1915 ( Tức 14 tháng
tư năm Ất Mão ), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Ủỷ ban hành
chính huyện Nam Thành, bị toà án Đoàn ủy Cải cách ruộng đất xử bắn ngày
30 tháng giêng năm 1955 (Tức mồng bẩy tháng giêng năm Ất Mùi), được minh
oan và phục hồi danh dự tháng 7 năm 1958.
Trịnh Doãng vừa bưng mâm cỗ đặt lên cái bệ cao
giữa hai ngôi mộ chợt nhớ ra điều gì vội chạy về phía sau dẫn đến một
ông già để râu dài, mặc bộ quần áo gụ nhưng lại đội chiếc mũ phớt Thượng
Hải, vai quàng bị cói đến trước Lê Văn Nghiên hỏi:
- Ông Thứ trưởng có còn nhớ ai không?
Nghiên nheo mắt cười:
- Bác lại còn phải thử tôi. Đây là Nguyễn Đình
Phán, một cây trống nổi tiếng làng Cùa, cựu thành viên đội kèn hiếu của
chúng ta chứ còn ai nữa.
Trịnh Doãng cười ha hả rất không hợp với không khí trang nghiêm của đám cải táng, cái cổ cò rướn ra quá mức trông rất hài hước:
- Thế thì còn đợi gì nữa. Đồ nghề đã có sẵn trong
chiếc bị kia, anh em ta hôm nay phải hoà tấu một tang khúc thật trọng
thể để chiêu hồn cho ông Chủ tịch và cụ nhà.
Lê Văn Nghiên tủm tỉm cười:
- Bác vẫn nhớ nghề hay là mấy tháng nay sang bên Tây chén sốt vang thịt bò quên sạch rồi?
- Quên là thế nào. Ta bắt đầu chứ?
Trịnh Doãng thổi kèn, Lê Văn Nghiên kéo nhị,
Nguyễn Đình Phán ngồi bệt xuống cỏ, hai tay, hai dùi lúc cắc, lúc tùng
như làm xiếc với mấy chiếc trống cơm. Bản Lâm khốc được
tấu lên ở âm vực luôn thay đổi, lúc bổng lúc trầm, lúc khoan lúc nhặt
với đủ các cung bậc tình cảm, nghe vô cùng thống thiết làm cho các vị
khách ai cũng phải mủi lòng.
Vào đúng lúc phường kèn chuyển sang khúc “Lưu thuỷ”, Trịnh Doãng dạo đoạn mở đầu bằng những âm trầm tò tí te… thì người thư ký đến bên Lê Văn Nghiên khẽ nói:
- Có hai bà cụ muốn gặp thủ trưởng.
Phường kèn tạm ngừng. Hai bà gìa tóc đều bạc
trắng như cước. Một bà xách làn mây, bên trong có mấy thẻ hương. Anh em
họ Lê nhận ra ngay. Bà Cả Huê và bà Ba Lánh. Bà Cả tuổi quá chín mươi bị
phong thấp, phải chống gậy nhưng mắt còn tinh, thong thả thắp hương,
chắp tay vái ba vái trước mộ bà Hai Thoả và mộ Lê Văn Vận. Bà Ba Lánh
năm nay bước sang tuổi tám mươi mốt đi cùng với con trai là uỷ viên
thường vụ, Giám đốc sở công an tỉnh. Từ khi rời làng Cùa, phải năm mươi
tám năm bà mới có dịp trở lại. Bà Ba lấy trong túi ra chiếc khăn xô,
thong thả thắt lên đầu, bỏ thõng hai múi ngang lưng rồi bảo Lê Văn
Nghiên:
- Các anh tế kèn đi để tôi thắp cho ông ấy tuần hương.
Nhìn thấy bà Ba, bà Hài chống gậy bước đến nắm tay thì thầm:
- Cảm ơn dì, không có dì giúp đỡ thì anh em thằng Nghiên chẳng bao giờ có ngày hôm nay.
Buổi tối, sau khi quan khách về, Trịnh Doãng sang nhà bà Hài rủ Lê Văn Nghiên:
- Chú sang bên tôi chén lươn om củ chuối.
Ông Thứ trưởng gật đầu:
- Nhắm với rượu Tây chứ?
Doãng nháy mắt :
- Dân nhà quê chỉ khoái món cuốc lủi, rượu Tây thằng Dõng có đem về mấy chai đấy nhưng uống chua như cứt mèo, phí cả món nhắm.
Bữa rượu toàn nhắm với những món nhà quê nhưng
rất rôm rả vì có cả Nguyễn Đình Phán râu dài. Rất tiếc thiếu mất lão
Mộc. Lão mất từ năm tám hai, năm làng Cùa bị đói đến mức nhiều nhà phải
ăn cháo sắn. Thằng Thụt con ông xếp Đáy là gã cùng đinh, ban đêm rủ lũ
bợm rượu ra đồng Quan moi con trâu của hợp tác xã chết vì bệnh nhiệt
thán chôn từ tối hôm trước lên, xả thịt chia nhau. Lão Mộc vừa ở nhà
Nguyễn Đình Phán về, thấy tay Ba Cò xách xâu thịt vừa đi vừa nhìn lấm
lét như kẻ ăn trộm liền chặn lại hỏi:
- Thịt ở đâu đấy?
Ba Cò lấy tay ra hiệu:
- Bọn thằng Thụt đang mổ trâu ở đồng Quan, nhanh chân lên may ra còn.
Lão đánh gộc mò đến nơi được thằng Toan quẳng cho
một miếng phải đến hơn hai cân, toàn thịt nục. Thịt trâu chết toi nhưng
xào tỏi cũng dậy mùi. Đã mấy ngày liền lão mộc toàn nhai sắn khô luộc,
người nhão ra, có miếng thịt tươi ăn vào đến đâu mát ruột đến đấy. Trưa
hôm ấy tất cả bọn chén thịt trâu đều mắc chứng bệnh quái lạ. Toàn thân
toát mồ hôi, bụng căng như quả bóng, không đi đại tiểu tiện được mà
thỉnh thoảng đánh rắm phì ra một thứ mùi thối khẳn còn kinh khủng hơn cả
cóc chết ba nắng. Y sĩ Phát, phụ trách trạm xá xã Đoàn Kết chịu không
chẩn đoán ra liền gửi tất cả lên bệnh viện huyện. Hơn ba chục chiếc
võng, kẻ thì khênh, người đèo lẵng nhẵng bằng xe đạp nối nhau trên đường
228 là hiện tượng chưa từng thấy ở vùng Ba Tổng xưa nay. Sau ba giờ hội
chẩn các thầy thuốc mới tìm được nguyên nhân căn bệnh tập thể tai hại
này là do bà con ta ăn phải thứ thịt trâu đã nhiễm khuẩn nên bị ngộ độc ở
thể cấp. Mười ba nạn nhân tử vong, trong đó phần lớn là đàn bà và trẻ
con. Số còn sống chủ yếu là bọn sâu rượu. Các bác sỹ chịu không thể giải
thích được hiện tượng kỳ lạ trên, Còn dân làng Cùa thì cho rằng rượu cuốc lủi giết chết vi trùng.
Thằng Nhặt lúc ấy mới xuất ngũ, chưa vợ, đang
đóng gạch thuê ở Mao Điền, có người báo, vội bỏ công việc đạp xe sang
bệnh viện. Cậu ta vào đến nơi thì lão Mộc chỉ còn thoi thóp thở. Những
cơn co giật làm lão kiệt sức rất nhanh. Mọi người đang định đưa lão về
làng thì từ bên ngoài, một người đàn bà trùm khăn mỏ quạ lặng lẽ lách
vào. Bà ta tuột vành khăn, quỳ trước người đánh gộc ghé tai nói gì đó
trong tiếng nấc. Vốn nặng tai lại sắp về với tổ tiên, hẳn là lão chẳng
nghe được tiếng thì thầm của Chĩnh Con, nhưng khi nhìn thấy những giọt
nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo, lão biết đó là những giọt nước
mắt sám hối. Bằng một cố gắng cuối cùng, lão đánh gộc nhìn bà mẹ rồi đưa
mắt về phía người con nuôi. Lúc ấy cậu ta đang ngồi cuối giường, bàn
tay phải xoa nhẹ trên bụng lão…
Sang đến chén thứ ba, Trịnh Doãng đã ngà ngà hỏi Lê Văn Nghiên:
- Cậu phấn đấu thế nào mà lên đến cấp Thứ trưởng, lũ thảo dân chúng tôi phục sát đất đấy.
Lê Văn Nghiên cười bảo:
- Gặp may thôi, chuyện của tôi chẳng khác gì chuyện Trạng Lợn.
Rượu vào lời ra, ông Thứ trưởng thường trực Bộ X…
hứng lên kể rất rành rọt đoạn đời thanh niên xung phong của mình. Năm
bảy mốt, một số đơn vị thanh niên xung phong giải thể, phần lớn anh chị
em về địa phương, nhưng cũng có những người được bổ sung vào các công
trường cầu đường bên Cục công trình II. Lê Văn Nghiên về mỏ đá Trại Sen.
Tại đây anh ta làm tổ trưởng tổ mìn, ba năm liền lao động tiên tiến,
năm bẩy tư là chiến sĩ thi đua được bình chọn là đối tượng kết nạp đảng,
nhưng lần nào cán bộ tổ chức về thẩm tra lý lịch Bùi Quốc Tầm cũng phê Thành phần gia đình phức tạp. Bố đẻ bị tử hình năm 1955. Đề nghị không kết nạp.
Phép vua thua lệ làng. Đảng uỷ xã Đoàn Kết đã nhận xét bằng giấy trắng
mực đen như thế, dù lãnh đạo mỏ đá có nhiệt tình giúp đỡ đến mấy cũng
đành chào thua.
Cuối năm bẩy lăm, Lúc ấy Lê Văn Nghiên đã sang
tuổi bốn mươi mới cưới vợ. Vợ anh ta không phải ai khác mà chính là Thuỳ
Dung. Lúc bị thương ở trạm Z35, Thuỳ Dung mê man bất tỉnh, bị bọn biệt
kích kéo lên máy bay trực thăng mang về bệnh viện quân đội Việt Nam cộng
hoà chữa chạy. Sau khi xuất viện, cô ta bị đày ra Phú quốc hai năm rồi
được trao trả tù binh ngay đợt đầu. Tình cờ một lần qua Hà Nội, Lê Văn
Nghiên gặp Thuỳ Dung ở ga Hàng Cỏ. Hai người mừng mừng tủi tủi ôn lại
những kỷ niệm đầy máu và nước mắt.
Giải phóng miền Nam được hơn một năm. Hôm ấy rét
lắm. Cả tổ đang đục lỗ mìn trên sườn núi đá chợt có chiếc Volga đen rẽ
vào công trường. Một lúc sau, ông Quá, nhân viên hành chính ra gọi Lê
Văn Nghiên bảo:
- Cậu tạm nghỉ xuống có người gặp.
Nghiên về đến lán thấy một người đàn ông còn khá
trẻ, tay xách cặp da cùng với Giám đốc đang ngồi chờ trong phòng làm
việc. Anh ta hỏi bằng thứ giọng miền Trung khá nặng:
- Thưa… đồng chí là Lê Văn Nghiên, người làng Cùa?
- Vâng, tôi đây… ông là… – Anh thợ khoan thoáng giật mình cảnh giác dò xét vị khách lạ.
- Xin hỏi, đồng chí trước đây đã ở đơn vị thanh niên xung phong C9 và trạm Z35?
Nghiên xuýt bị choáng khi chợt nhớ đến cái chết của Chu Quang Sầm, nhưng rồi anh ta vẫn giữ được dáng vẻ tự nhiên bảo:
- Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ được Tổng đội cấp
giấy cho chuyển sang mỏ đá, nếu cần xác minh thêm xin mời các đồng chí
về uỷ ban xã Đoàn Kết.
- Việc là thế này. – Người khách lấy trong cặp ra
bức thư có dấu Quốc huy đưa cho Nghiên – Tôi được lệnh của chú Năm mời
đồng chí về Hà Nội.
Lê Văn Nghiên thở nhẹ:
- Ông Năm Khương ở bộ chỉ huy mặt trận R…?
- Dạ đúng. Mời đồng chí lên xe, ta đi ngay kẻo chú Năm chờ.
Chuyến ấy, Lê Văn Nghiên đi làm cả mỏ đá xôn xao
còn Thuỳ Dung thì phấp phỏng. Mãi đến tháng chạp năm sau anh ta mới về
chuyển cho vợ vào Nam. Lúc ấy mọi người mới hay, Nghiên đã được kết nạp
đảng và bổ nhiệm chức vụ Phó tổng Giám đốc tổng công ty Hatico. Thời kỳ
xoá bỏ bao cấp, chuyển đổi cơ chế , anh thợ đá đảm nhiệm chức Tổng Giám
đốc Tổng công ty xây dựng cầu đường sau khi đã tốt nghiệp hệ chuyên tu
khoa Thiết kế công trình cầu hầm. Năm tám chín, ở tuổi năm ba, tức là
vào cái tuổi đáng ngại nhất trong đời, ông tổng Giám đốc được điều về bộ
giữ ghế Thứ trưởng.
Nghe xong, Trịnh Doãng bảo;
- Đúng là người ta có số thật, mà cậu ăn về hậu
vận, chứ cứ như những năm anh em mình thổi kèn đám ma thì thật sầu đời.
Mà này, có còn nhớ cô Hảo làng Báng?
Nghiên đang vui chợt thở dài:
- Quên sao được, tính đến nay Hảo đã mất hai mươi nhăm năm. Ngày mai bác đi với tôi sang thắp hương cho cô ấy được không?
- Đi thì đi nhưng còn chuyện này chắc cậu chưa biết. Tay Thạc bây giờ là Bí thư huyện uỷ Nam Thành.
- Thật à? Sao hôm nay không thấy anh ta đến?
- Chắc hắn còn ngượng với cậu về cái chết của cô Hảo.
*
* *
Ở nhà được một tuần thì vợ chồng Lê Văn Nghiên và
cậu con trai đang học lớp mười từ biệt mẹ và anh chị ra Hà Nội. Bà Hài
cảm động lắm, cả cuộc đời chìm nổi, khổ ải mới có ngày hôm nay. Bà bảo
Thuỳ Dung:
- Bố nó bận việc chính phủ thì không nói, còn mẹ con chị thỉnh thoảng phải về thăm nhà để bà cháu tôi còn được gặp nhau.
Thuỳ Dung ý tứ liếc nhìn chồng rồi gợi ý:
- Hay là mẹ lên Hà Nội ở với chúng con?
Lúc ấy Lê Văn Khải đang ngồi với Trịnh Doãng và Nguyễn Đình Phán vội bảo:
- Mẹ là mẹ chung, chú thím có thể đón bà lên chơi một thời gian, còn nếu ở hẳn thì không nên.
Thuỳ Dung tỏ vẻ thông cảm:
- Em hiểu rồi, bác yên tâm, hè này nhà em lại đưa bà về.
Lê Văn Khải lấy vợ năm bảy mươi mốt, vợ Khải là
một cô trung cấp chăn nuôi, người vùng biển, xinh xẻo nhưng chua ngoa,
coi mẹ chồng chẳng ra gì. Khải biết thân phận mình, phải ngậm bồ hòn làm
ngọt. Trong có tám năm, chị ta đẻ liền ba đưa con gái, đứa nào cũng
giống mẹ, vừa đanh đá vừa thích đua đòi ăn chơi. Cuối năm, Lê Văn Khải
xin nghỉ hưu trước tuổi vì mắc chứng hen phế quản. Dạo này anh ta bắt
đầu để râu. Chỉ sau mấy tháng, bộ râu quai nón đâm ra tua tủa cùngvới
mái tóc nghệ sỹ vừa dài vừa rậm chờm kín mang tai đã biến gã chăn bò có
thâm niên hai mươi năm thành lão già tám mươi, mặc dù tính cả tuổi mụ
anh mới tròn năm bẩy. Về vườn rồi viên bác sỹ thú y lại có thu nhập cao
hơn nhiều so với hồi còn là công chức. Ấy là nghề chữa trâu, bò, chó,
lợn, thậm chí cả mèo nếu có người thỉnh. Hàng ngày anh ta rong ruổi khắp
vùng Ba Tổng trên chiếc xe máy Bố già có série từ đời tám hoánh nào chẳng ai biết, với hộp đồ nghề đựng trong túi bạt, phục vụ các ‘thượng đế” tại nhà rất tận tình.
Tháng chín vừa rồi, Lê Văn Khải được nhà nước tặng huy chương Vì sự nghiệp an ninh Tổ Quốc
sau một thời gian khá dài mang đống giấy tờ có bút tích của các ông
công an mật, giao nhiệm vụ đặc tình, gõ cửa các cơ quan hữu trách. Cùng
với số tiền kèm theo hai trăm ngàn, anh ta làm mâm cơm mời bạn bè đến
chia vui. Giấy chứng nhận và huy chương được lồng trong khung kính treo
trang trọng bên cạnh chân dung ông bố do một thợ truyền thần vẽ lại theo
trí nhớ của bà Hài.
Trước tết Quý Dậu, Khúc Luận về làng. Cùng đi có
Diễm Phương và cô con gái Mai Lan hai mươi mốt tuổi. Cô ta học luật
nhưng bỏ nửa chừng nhảy sang lĩnh vực kinh doanh vũ trường. Khúc Luận ra
Bắc chuyến này là để ký một hợp đồng với tỉnh về dự án nhà máy chế biến
hoa quả xuất khẩu. Cả Bí thư và Chủ tịch đều tiếp đãi nhà Việt kiều yêu
nước vô cùng nồng hậu. Trong dự án có những điều khoản rất ưu đãi mà
tỉnh dành cho doanh nghiệp nhằm giải quyết đầu ra cho hàng ngàn hécta
vải thiều đang có nguy cơ chặt bỏ vì mấy năm liền rớt giá. Nhà máy bắt
đầu khởi công thì Khúc Luận cũng thương lượng được với ông Tam chuộc lại
ngôi nhà cũ và rước bà Cả Huê về ở. Sau bốn mươi tám năm ngôi nhà đã
lần lượt sang nhượng qua tay nhiều chủ nhưng vẫn vững chãi đứng sừng
sững bất chấp sự tàn phá của thời gian, chỉ cần quét vôi, trang trí lại
nội thất là có thể ở được cả thế kỷ nữa.
Nhưng còn một việc rất đáng trách là anh ta không chịu đến thăm bà Ba Lánh mặc dù lúc ấy cả hai mẹ con cùng ở một thành phố.
Ký ức làng Cùa
Vào một đêm mùa hè năm Mậu Ngọ có ngôi sao băng
từ dải Ngân Hà rơi xuống phía đông nam làng Cùa kéo thành một vệt sáng
chói như lưỡi kiếm kèm theo tiếng nổ rùng rùng như sấm động. Sáng ra,
dân làng vô cùng kinh ngạc khi thấy dải đất trồng dâu đồng Bìm Bịp bị
khối thiên thạch khoét thành một cái đầm lớn, nước đục ngầu vẫn còn sôi
sùng sục… Cái đầm ấy giờ gọi là đầm Ma. Tất nhiên các nhà khoa học không
tin truyền thuyết này. Đầu những năm sáu mươi, một đoàn chuyên gia của
Học viện Thuỷ lợi về khảo sát địa hình vùng Ba Tổng đã đưa ra kết luận,
đầm Ma chỉ là một đoạn của sông Lăng. Nó được hình thành cách đây khoảng
hai trăm nghìn năm khi dòng chảy quặt về hướng nam bởi một trận động
đất kéo dài mười bẩy phút trên tám độ Richter. Một thời gian dài người
ta vẫn cho rằng đấy là kết luận có sức thuyết phục. Thế nhưng, đến tháng
tám năm chín hai, một nhóm các nhà địa vật lý và cổ sinh học của Viện
khoa học Việt Nam, nhân chuyến điền dã qua làng Cùa đã phát hiện ra đầm
Ma có chỗ sâu hơn trăm mét nước. Tin này được đăng trên trang nhất của
những tờ báo và tạp chí lớn của cả nước làm giới khoa học xôn xao. Ngay
sau đó, người ta tiến hành khảo sát rừng Hóp là khu rừng tự nhiên cách
đầm Ma chưa đầy tám chục thước. Trong lúc tìm kiếm mẫu hoá thạch, một vị
tiến sỹ địa vật địa lý ngẫu nhiên nhặt được hòn đá bằng già nửa lon sữa
bò nhưng rất nặng. Ông ta nghi là quặng uranium liền gửi về phòng thí
nghiệm phân tích. Kết quả cho thấy mẫu quặng trên không có nguồn gốc từ
trái đất mà là một mảnh thiên thạch.
Hoá ra ký ức làng Cùa không sai, chỉ có điều khối
thiên thạch rơi xuống không phải năm Mậu Ngọ mà đã viếng thăm hành tinh
của chúng ta sáu mươi tư triệu năm trước, đúng vào thời kỳ những con
khủng long cuối cùng tuyệt diệt. Khối thiên thạch khá lớn, sau khi bị
cháy gần hết trong quá trình rơi do ma sát với tầng khí quyển dày đặc,
nó vẫn còn đủ năng lượng khoét được một cái đầm rộng hơn trăm hécta, sâu
một trăm hai mươi tám mét, đất đá tung toé khắp nơi tạo thành khá nhiều
gò đống mà cái gò lớn nhất là rừng Hóp.
Chú thích:
(1): Hình nộm người bằng gỗ hoặc nhựa quảng cáo quần áo ở các cửa hiệu
(2): Một loại xe đạp nổi tiếng của Pháp
Khởi thảo tháng 12 năm 2001, viết xong tháng 4 năm 2002.
Sửa lại lần cuối tháng 10 năm 2003.
Đ.V.S.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét