của Tỉnh Dòng Thánh Phanxicô Việt Nam, Cha Guy Marie Nguyễn Hồng Giáo
đã được Chúa gọi về vào lúc 21g 30 tối thứ Hai, ngày 06/04/2015.
Chúng tôi đăng lại bài viết này để bày tỏ lòng
tri ân đến cha qua những suy tư và đóng góp mà cha đã cống hiến cho Hội
Thánh Việt Nam và đất nước thân yêu của chúng ta.
***
Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện đã làm một cuộc
so sánh khá hay giữa chủ nghĩa Mác và Nho giáo, căn cứ trên kinh nghiệm
sống của bản thân ông là một nhà cộng sản kỳ cựu, xuất thân từ một gia
đình “làm quan”, thấm nhuần đậm tinh thần Khổng giáo.
Nho sĩ và người mác-xít
Nguyễn Khắc Viện cho rằng người Mác-xít tìm thấy
nơi Nho giáo một quan điểm hoàn toàn như mình là phục vụ xã hội, phục vụ
đất nước. Từ gốc rễ của phong trào Nho giáo bên Trung Quốc, nhà nho là
người được đào tạo để giúp vua trị nước. “Chủ nghĩa Mác không làm cho
các nho sĩ bị ngỡ ngàng khi tập trung suy nghĩ về các vấn đề chính trị
và xã hội, học thuyết nho giáo cũng có cùng một mục tiêu suy nghĩ tương
tự ” (Nguyễn Khắc Viện, sđd, tr 38). Nơi khác, Nguyễn Khắc Viện viết:
“Nho giáo khác với những tôn giáo, hướng suy nghĩ con người hoàn toàn
vào cuộc sống xã hội, cho nên đứng trên một bình diện chung với người
Mác-xít’ (tr. 47).
Theo tác giả, điểm khác biệt căn bản giữa chủ
nghĩa Mác và Nho giáo là ở tính chất khoa học (x. sđd, tr 42). Để cải tổ
xã hội, chủ nghĩa Mác dựa trên phân tích khoa học về xã hội và lịch sử
để rút ra những quy luật phát triển và đưa ra những kế hoạch hành động
phù hợp với thực tế khách quan, trong lúc đó thì Nho giáo chỉ đứng trên
quan điểm thuần tuý đạo đức để hành động (x. sđd, tr 38). Dĩ nhiên người
chiến sĩ Mác-xít có thể vận dụng chủ nghĩa đạo đức chính trị của nho
giáo cho chính mình (x. sđd, tr 38), như cụ Hồ Chí Minh đã làm trong
cuốn “Sửa đổi lề lối làm việc”, nhưng chỉ có đạo đức mà thôi thì chưa
đủ.
Theo Nguyễn Khắc Viện, chủ nghĩa Mác so với Nho giáo thiếu mất phần đạo lý.
Kể lại con đường ông đã đi theo chủ nghĩa Mác như thế nào, tác giả
viết: “…Dần dần tôi bị cuốn hút vào trào lưu Mác-xít. Lòng yêu nước,
những hiểu biết về khoa học, tiếp xúc với nhân dân tiến bộ Pháp, dễ dàng
dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác. Nhưng dù sao vẫn thấy thiếu hụt một chút gì
đây, thoả mãn mới 90-95% thôi. Về sau mới hiểu là thiếu hụt phần ‘Đạo
lý’” (sđd, tr 56). “Phân tích xã hội để hiểu rõ lịch sử, xác định đường
lối thì chủ nghĩa Mác hơn hẳn, nhưng Mác trong đạo lý không được nổi bật
và cụ thể như trong nho giáo. Có thể nó không có học thuyết chủ nghĩa
nào đặt vấn đề ‘xử thế’ rõ ràng và đầy đủ như vậy…” (sđd, tr 58). Tóm
lại “Mác coi nhẹ mặt xử thế, tu thân” (tr 59).
Trước đó khoảng vài chục trang, tác giả quả quyết
người cách mạng phải có đạo đức, “không đạo đức thì dù tài giỏi mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân” (tr. 41), rồi lại quả quyết ngày nay
chủ nghĩa Mác thay thế cho nho giáo […], tạo cơ sở cho một nền đạo đức
mới đã thay thế cho luân lý nho giáo” (tr 43). Nền đạo đức đó là đạo đức
cách mạng.
Đạo đức cách mạng và đạo đức Nho giáo
Theo Nguyễn Khắc Viện, đạo đức Nho giáo đã lỗi
thời và đã được đạo đức cách mạng thay thế. Nhưng có thể nêu câu hỏi:
Thay thế như thế nào ?
Bây giờ người cộng sản Việt Nam thường xuyên nói
tới đạo đức cách mạng, mà tiêu biểu cho nền đạo đức ấy là Chủ tịch Hồ
Chí Minh, nên cán bộ đảng viên phải ra sức học tập và noi gương. Khi mô
tả nội dung đạo đức cách mạng hoặc khi nói về đạo đức Hồ Chí Minh, người
ta nêu ra một loạt những đức tính mà ta có thể phân ra làm ba loại.
1. Trước hết, đó là những đức tính luân lý căn
bản mà một con người tốt phải có như: lòng nhân ái, vị tha, sự thành
thực, tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, khiêm tốn, trung tín (giữ
lời hứa). Chúng ta có thể gặp thấy chúng nơi những con người tốt thuộc
bất cứ xã hội nào, giai cấp nào. Có thể nói chúng thuộc về đạo đức làm
người.
2. Kế đến là những đức tính được đề cao trong
truyền thống đạo đức dân tộc Việt, chẳng hạn lòng yêu nước, tinh thần
đoàn kết khi nước lâm nạn, hiếu học, tôn sư trọng đạo, hiếu khách, cần
cù, nhẫn nại.
3. Thứ ba là những đức tính còn mang đậm ảnh
hưởng của Khổng giáo. Trong cuốn “Sửa đổi lề lối làm việc”, Chủ tịch Hồ
Chí Minh nói tới chí công vô tư và nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Chủ
tịch áp dụng những điều tốt ấy vào môi trường cách mạng để rèn luyện cán
bộ đảng viên. Chẳng hạn: “Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ
đồng chí và đồng bào… Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm
việc bậy, không có gì phải giấu Đảng; ngoài lợi ích Đảng, không có lợi
ích riêng phải lo toan… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải làm có
gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Có gan chống lại những sự
vinh hoa phú quý không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính
mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”… (Trích
theo Nguyễn Khắc Viện, sđd,tr 40).
Đó là đạo đức cách mạng. Đó là đạo đức Nho giáo
được chuyển về những đối tượng mới là Đảng, nhân dân, Tổ quốc. Sự chuyển
đổi đối tượng và ý nghĩa nguyên thủy của đạo đức Nho giáo, ta còn thấy
rõ trong cách người cộng sản giải thích hai khái niệm cơ bản của tư
tưởng đạo đức Nho giáo: Trung và Hiếu. Trung không còn là trung với vua,
hiếu không còn là hiếu với cha mẹ, nhưng là “trung với nước, hiếu với
dân, suốt đời chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ
nghĩa xã hội và hạnh phúc của nhân dân” (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, Giáo trình Đạo đức học, (dùng cho Hệ Cử nhân chinh trị), nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 199).
Như vậy, đạo đức cách mạng, đạo đức Hồ Chí Minh
như được trình bày trên đây chưa có gì thực sự độc đáo, mới mẻ. Cả những
khai triển mở rộng và thích nghi của đạo đức cách mạng với hoàn cảnh
mới (mở cửa, kinh tế thị trường, toàn cầu hoá) cũng không có gì khác.
Tóm lại đạo đức cách mạng đã thay thế đạo đức nho
giáo bằng cách vận dụng nó, chuyển đổi môt phần ý nghĩa của nó và gột
rửa hết những gì mang tính phong kiến trong đó để đưa vào trong đạo đức
cách mạng, biến nó thành đạo đức cách mạng.
Đạo đức cách mạng thực chất là gì?
Nhưng theo tôi, những nội dung đuợc mô tả trên
đây về đạo đức cách mạng chưa phải là đạo đức cách mạng đúng nghĩa, vì
không cho thấy rõ đặc trưng của đạo đức cách mạng là gì. May ra thì có
vài chi tiết nhỏ có thể coi là dấu chỉ về nét đặc trưng, trong đoạn
trích của cuốn Sửa đổi lề lối làm việc, ở đó đồng chí (người cùng Đảng)
được đặt trước (tức là trên)đồng bào, và Đảng trước nhân dân, trước tổ
quốc. Nhưng không biết chắc khi sắp xếp thứ tự như thế Hồ Chí Minh có
chủ ý hay chỉ là tình cờ. Có điều rõ ràng là ngay từ thời đầu Cách mạng,
cụ Hồ đã dạy: đối với người đảng viên, không còn lợi ích riêng tư nào
nữa mà chỉ có lợi ích của Đảng, và phải dám chết vì Đảng.
Theo học thuyết Mác-Ăngghen, không có nền đạo đức
chung cho mọi người mọi nơi; đạo đức không phát sinh từ ý muốn của
Thượng Đế hay ý niệm tuyệt đối, hoặc từ lý trí hay bản tính con người,
nhưng từ điều kiện sinh hoạt vật chất, đặc biệt là tình trạng kinh tế
của xã hội, do đó nó luôn thay đổi và luôn mang tính giai cấp. Giai cấp
thống trị có đạo đức của họ cũng như giai cấp bị trị có đạo đức của
riêng mình. Đạo đức cách mạng là đạo đức của giai cấp công nhân. Tiêu
chuẩn để xác định cái gì tốt cái gì xấu trong đạo đức cộng sản đã được
Lênin nêu rõ: “Đạo đức của chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào các lợi ích
cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản” (trích theo Gustave Wetter,
Sowjet Ideologie heute, Fischer Buecherei, Frankfurt 1962, tr 262).
Cuộc đấu tranh này nhằm giải phóng giai cấp vô sản và thiết lập một xã
hội vô giai cấp trong đó không còn cảnh người bóc lột người nhưng mọi
người sẽ coi nhau như anh em và được sống tự do hạnh phúc.
Vậy tại sao nhà cộng sản Nguyễn Khắc Viện lại bảo
học thuyết Mác thiếu phần đạo lý ? Rõ ràng ông Viện phân biệt đạo đức
cách mạng với đạo lý theo nghũa tu thân, xử thế. Các Mác không bàn đến
tu thân xử thế. Ông không quan tâm tới cá nhân. Cá nhân luôn được nhìn
trong tập thể, qua tập thể. Về sau các nhà cộng sản phải xây dựng một
nền đạo đức mới cho đảng viên, cán bộ. Nhưng nền đạo đức đó cũng rất coi
nhẹ “đạo lý”. Hiểu theo nghĩa hẹp thì đạo đức cách mạng không dạy người
ta phải biết cư xử ở đời sao cho phải đạo làm người, nhưng phải làm gì
để thành “người cách mạng” (cụ thể làm người cộng sản, một con người đấu
tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp vô sản bị bóc lột…).
Ở Việt Nam ngày nay, người cộng sản thường ghép
đạo đức cách mạng vào đạo đức dân tộc và đạo đức làm người. Có thể là vì
người ta hiểu đạo đức cách mạng một cách mơ hồ hoặc ít nhất là rộng
rãi, cởi mở (như Cụ Hồ thời đầu Cách Mạng chăng?), hoặc vì người ta muốn
làm cho nó gần gũi hơn, dễ chấp nhận hơn. Nhưng về mặt lý luận, dường
như điều đó không hợp lý, nếu hiểu đạo đức cách mạng theo nghĩa chặt
chẽ. Vì sao ? Vì người ta không thể đơn giản lấy những phạm trù, những
giá trị của hệ thống đạo đức này bỏ qua một hệ thống khác mà không làm
thay đổi chúng trừ ra khi cả hai hệ thống đều có cùng một hệ quy chiếu
chung. Bây giờ người cộng sản thích nói tới lòng nhân; nhưng lòng nhân
trong đạo đức cách mạng có một nghĩa khác với lòng nhân trong nho giáo
vì đôi bên quan niệm “con người” khác nhau (chẳng hạn, chủ nghĩa cộng
sản coi hoạt động lao động sản xuất “là bản chất sâu xa nhất của con
người” (Giáo trình Đạo đức học, tr 101). Lòng nhân trong Nho giáo, cho
dù mang màu sắc giai cấp phong kiến, nhưng vẫn đặt cơ sở cuối cùng trên
“Trời” và trên bản tính con người (nhân chi sơ tính bản thiện) (x.Nguyễn
Khắc Viện, sđd, tr 43 và tr 19-20); do đó nó có một giá trị “phổ quát”,
dễ được mọi người chấp nhận. Thiết tưởng một người không theo Đạo Khổng
ở Đông hay ở Tây phương đều có thể hiểu và chấp nhận những quy tắc sống
của nho giáo như: “Thấy điều thiện phải cố làm như không bao giờ kịp,
thấy điều bất thiện thì phải sợ hãi như thò tay vào nước sôi” (Luận
Ngữ); “mình tự trách mình nhiều mà trách người ít, thì xa được điều oán
hận” (Luận Ngữ); “ăn gạo xấu, uống nước lã, gấp cánh tay mà gối đầu, tuy
thế cũng có cái vui ở trong đó; làm điều bất nghĩa mà giàu sang thì ta
coi như đám mây nổi” (Luận Ngữ); “người ta không thể không có lòng xấu
hổ về điều mình làm bậy. Nếu ai đã biết lòng xấu hổ về điều vô sỉ thì
không có điều gì đáng xấu hổ nữa” (Mạnh Tử)… Những quy tắc sống như
thế ắt sẽ bị các nhà cộng sản – trong tư cách là cộng sản – coi là đạo
đức tiểu tư sản, làm nhụt ý chí đấu tranh của người cách mạng! Nhưng đạo
đức cách mạng thì chỉ dành cho người cộng sản mà thôi.
Một đoạn trong cuốn sách của Nguyễn Khắc Viện
giúp tôi đoán hiểu hàm ý của ông khi phân biệt đạo đức mác-xít với đạo
lý nho giáo. Ông viết:
“Tôi thích thú tinh thần có mức độ, ứng xử vừa
phải của đạo nho. Không cường điệu lên và yêu hết mọi người ngang nhau,
mà bảo phải yêu bố mẹ mình, vợ con mình đã rồi mới đến yêu người khác…
Nhận rõ điều gì là phi pháp, nhưng không nhẫn tâm đến mức đi tố cáo bố
mẹ với nhà chức trách. Vì cao hơn pháp luật là tình người, là lòng
nhân” (sđd, tr 58).
Tôi nghĩ tác giả viết câu này hoàn toàn không
phải trong tư cách là một nhà cộng sản (chính thống). Cách nay mấy chục
năm, không biết các lý thuyết gia cộng sản nghĩ gì khi đọc ý kiến này ?
Chắc họ đã coi tác giả là người thiếu lập trường giai cấp, thiếu tinh
thần đấu tranh cách mạng, vì theo đạo đức cách mạng, không thể đặt tình
người, lòng nhân cao hơn mục tiêu cách mạng hay chủ trương của Đảng
được. Câu viết làm cho những ai đã sống trong giai đoạn sôi sục của
phong trào cải cách ruộng đất ở miền Bắc từ năm 1953 đến 1956, nhớ lại
những cuộc đấu tố đầy bạo lực lật đổ giai cấp địa chủ và cường hào ác
bá, kẻ thù của “nhân dân”. Hàng ngàn người đã chết trong đợt cải tạo xã
hội này. Trong cuộc đấu tranh này, chuyện con cái đấu tố cha mẹ, trò đấu
tố thầy, bạn bè đấu tố nhau, kẻ chịu ơn đấu tố người ân nhân của mình,
mỗi người nhìn kẻ khác như một kẻ thù tiềm tàng (virtuel)… – đó là
chuyện bình thường và, mặc cho ông Viện coi là thiếu “đạo lý”, họ vẫn
được Đảng coi là “đạo đức”. Nhưng thiếu đạo lý là thiếu đạo làm người,
cũng có nghĩa là thiếu lòng nhân, tức là thiếu “tính người và tình
người” (Nguyễn Khắc Viện, sđd, tr 58), hay thiếu mất cái “đức tính tối
cao khiến con người trở ‘Con Người’ nhất” (sđd, tr 20). Một cái thiếu
“nghiêm trọng”. Những người tổ chức cuộc đấu tố và những người đứng ra
đấu tố như thế đã đặt quan điểm giai cấp lên mọi tình cảm, mọi quan hệ
xã hội khác. Và điều này ăn khớp hoàn toàn với quan niệm cộng sản về
giai cấp. Cũng vì thế mà đạo đức cách mạng dạy phải tuyệt đối trung
thành với Đảng (của giai cấp công nhân) và sẵn sàng chết cho Đảng như
người tín đồ sống chết cho “Đức Chúa” của mình.
Kết luận
Bài phân tích này, khởi đi từ một câu viết của
nhà nghiên cứu cộng sản Nguyễn Khắc Viện, đưa tôi đến nghi vấn: một nền
đạo đức của một xã hội, một tập thể hay của một giai cấp mà không có
“đạo lý” thì có còn là một nền đạo đức thật hay không ? Vì nền đạo đức
nào thì cũng phải nhìn nhận một số giá trị quy chuẩn vượt lên trên chính
xã hội sinh ra nó, như nhân phẩm, nhân tính, luật tự nhiên, lý tính,
hay Thượng đế – những điều mà đạo đức mácxít phủ nhận. Nhưng khi chọn
những giá trị khác thay thế vào đó như tiền tài, danh vọng, nòi giống,
quốc gia, giai cấp, thì đạo đức không những mất đi cái nền tảng vững
vàng mà còn dễ dàng trở nên phi nhân như lịch sử đã cho thấy và vẫn còn
cho thấy. Người cộng sản bảo: đạo đức cũng như những hình thái “ý thức
xã hội” khác (như tôn giáo, văn học, triết học…) chỉ là phản ánh của một
tình hình kinh tế nhất định nào đó, nhưng xin hỏi: tình hình xã hội chỉ
là một “thực tế”; vậy từ cái “là” – cái thực tế – làm sao trở thành cái
“phải là” (tức đạo đức) được? Tính bó buộc hay tính lý tưởng của đạo
đức không thể dựa trên thực trạng kinh tế hay xã hội.
Tôi cũng biết đảng cộng sản đã khởi sự công cuộc
đổi mới từ mấy thập niên qua, nhưng đó là những đổi mới trên các mặt đời
sống kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại, còn trên bình diện học thuyết
thì cơ bản vẫn giữ nguyên, các tài liệu giáo khoa về chủ nghĩa
Mác-Lênin có đưa vào một đôi giải thích và áp dụng cởi mở hơn trước,
nhưng cũng chỉ là những chi tiết chắp vá vào một tổng thể đã “hoàn
chỉnh” mà thôi. Vì thế mà trong bài viết, tôi không tính đến cuộc đổi
mới này.
Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô – 24/8/2011
(NguoiTinHuu.com)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét