Ở phần trước ta
đã nhìn thấy sự giáo dục gián tiếp, phần này ta sẽ đi sâu vào giáo dục
trực tiếp, tức là trong nhà trường, rất nhiều điều các bậc phu huynh có
thể tham khảo.
*
Mình hỏi với thằng cu em Hàn Quốc: “Sao không
thấy nhiều bọn teen teen em nhỉ, đi đâu cũng toàn là trẻ con?”, nó trả
lời lại làm mình cũng hơi ngạc nhiên: “Học cấp hai thì phải tranh thủ đi
chơi chứ, còn mấy năm nữa bọn em vào cấp ba thì làm gì còn thời gian
tận hưởng cuộc đời”.
Bộ Giáo dục Hàn Quốc tuyên bố vừa phát triển một
ứng dụng trên điện thoại thông minh giúp hạn chế tỷ lệ học sinh, sinh
viên tự sát. Họ cho biết ứng dụng này dò tìm những từ ngữ “có liên quan
đến tự sát” mà học sinh, sinh viên sử dụng trên các trang mạng xã hội
hoặc trong các tin nhắn điện thoại. Ứng dụng này sẽ lập tức gửi cảnh báo
tới điện thoại của phụ huynh. Hàng năm cứ mỗi khi kỳ thi đại học ở Hàn
Quốc diễn ra là số học sinh tự sát tăng vọt. Chỉ riêng trong năm 2014 số
học sinh, sinh viên tự sát là 118 người. Như vậy cứ ba ngày ở Hàn Quốc
lại có một học sinh hoặc sinh viên tự sát (trong đó có vài trường hợp tự
sát ở bậc tiểu học). Vì đâu mà đến nông nỗi này?
Bà Park Geun Hye dùng bút lông viết thư pháp
tiếng Triều Tiên, bên phải là cha của bà: Tổng thống Park Chung Hee. Ảnh
chụp tại Seoul vào 31 tháng Tám năm 1977, lúc này bà Park đang phải
nhận cương vị Đệ nhất Phu nhân vì mẹ bà đã bị bắn chết trong một vụ ám
sát hụt ông Park năm 1974. Ông Park thuộc thế hệ được đào tạo tại Nhật,
còn bà Park thuộc thế hệ học xong Cử nhân hoàn toàn tại Hàn Quốc.
Quay lại vài chục năm trước, khi Park Chung Hee
lên nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối ở Đại Hàn Dân Quốc, ông đã tập trung
vào xử lý hệ thống giáo dục. Tất cả sự quản lý giáo dục các cấp được tập
trung vào Bộ Giáo Dục, giống như Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ở
Việt Nam trước đây. Họ đã bắt đầu từ những việc căn bản nhất như tìm ra
triết lý giáo dục, đồng bộ hóa ngôn ngữ kỹ thuật chuyên môn bằng
cách chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Hàn. Suốt thời kì đô hộ của
Nhật, tiếng Nhật được đưa vào giảng dạy ở tất cả các bậc giáo dục, tiếng
Triều Tiên gần như bị cấm, người Triều Tiên phải học tiếng Nhật, đọc
các sách “thánh hiền” của Nhật. Hàn Quốc thừa hưởng một hệ thống giáo
dục rập khuôn như đúc của Nhật Bản, tầng lớp tinh hoa lãnh đạo Hàn Quốc
sau khi độc lập, đều đi học bên Nhật về. Người Hàn Quốc tìm cách chối bỏ
một sự thật rằng người Nhật đã đào tạo hàng trăm nghìn trí thức cho nền
công nghiệp Hàn Quốcvề sau (câu chuyện dài dòng giữa hai dân tộc này sẽ
kể chi tiết hơn ở bài sau).
Biếm họa của báo Hankyoreh tháng 12 năm 2008:
Tổng thống Lee Myung Bak đang đạp túi bụi vào ba người ngồi dưới là đại
diện cho Hiệp hội công nhân viên ngành giáo dục, đài truyền hình cáp YTN
và Ủy ban nhân quyền Hàn Quốc. Trong khung ảnh là Tổng thống Park Chung
Hee đang khuyên nhủ:“Nhẹ nhàng bình tĩnh thôi, để kiểm soát được ba
thằng này tôi mất đúng 18 năm cơ mà!”
Tổng thống Park Chung Hee đã động viên toàn thể
sinh viên cả nước, dốc hết sức cho học tập trong các trường đại học, đến
mức mà mỗi người Hàn Quốc chỉ cần nhìn thấy lá cờ Thái Cực bay trong
sân trường là phải tự nhủ cần quyết tâm hơn nữa. Mọi chỉ tiêu, số lượng
sinh viên nhập học, học ngành gì ra trường làm gì, thậm chí biên chế
giáo viên mỗi trường đều do bộ Giáo Dục kiểm soát. Xã hội Hàn Quốc mang
nặng tư tưởng đạo Khổng, trọng người học cao, những người học kỹ sư, bác
sĩ hoặc có trình độ chuyên môn đều được ngưỡng mộ nên chính ý chí sắt
đá của cá nhân và mô hình giáo dục “trung ương tập quyền”, chứ không
phải việc phát triển con người, đã đóng góp vào sự tăng trưởng thần kì
của kinh tế. Môi trường giáo dục khắc nghiệt đó đã đóng góp một lượng
lớn trí thức cho việc công nghiệp hóa Hàn Quốc trong thế kỉ XX, nhưng
vào thời điểm hiện tại, họ đang loay hoay mắc kẹt không khác gì giáo dục
Việt Nam hiện nay, thậm chí ở một số khía cạnh còn khủng hoảng hơn rất
nhiều.
Học sinh vái lạy cầu may ngoài cửa trường thi
trước ngày thi đại học chính thức. Khi phải đối mặt với những việc nằm
ngoài khả năng của mình, con người thường tìm đến những thế lực vô hình.
Mỗi một đứa trẻ khi bước chân vào mẫu giáo là bố
mẹ đã mặc định rằng con mình phải đỗ đại học. Có vào được đại học thì ra
trường mới có công việc tốt, và (giống Việt Nam nhưng đáng sợ hơn là)
để đàn ông còn… lấy được vợ. Vào được đại học thì thằng đàn ông mới có
cơ may ngẩng mặt lên với đời, tìm được việc nuôi gia đình và trở thành
người có “địa vị” trong xã hội, nếu không dễ dàng trở thành loại “vô
học” tức là công dân hạng hai. Vì thế từ nhà trẻ, tiểu học, trung học
đều phải chọn trường tốt để có thể thi vào đại học. Đứa trẻ cũng hiểu
được điều đó từ khi chưa bước chân vào lớp Một. Trung học phổ thông hay
cấp ba không hề bắt buộc ở Hàn Quốc nhưng 97% thanh niên Hàn Quốc hoàn
thành chương trình cấp ba, tỉ lệ cao hơn bất kỳ một nước nào trên Trái
Đất này!
Gần sáu giờ sáng Chủ Nhật, hàng quán vẫn đóng
cửa im lìm nhưng đã lác đác thấy có học sinh đi học thêm, tay vẫn còn
cầm đồ ăn sáng chưa bóc.
Anh bạn Lee cùng nhà nói đến kì thi đại học thì
lắc đầu và mình thấy rõ ràng gai ốc nổi lên trên cánh tay. Lee thi được
430/500 điểm (khoảng 86%) mới đỗ vào ngành Điện tử của một trường đại
học hạng trung. Có năm môn thi đại học trong đó ba môn bắt buộc là Toán,
tiếng Anh và tiếng Hàn Quốc, hai môn còn lại tùy vào khối tự nhiên hoặc
xã hội. Học sinh cấp Ba vào học lúc 8:30 sáng và ra về lúc 9:00 tối
(giờ học chính thức kết thúc lúc 6:00 tối nhưng học “phụ đạo” 3 tiếng
nữa). Các lò luyện thi gọi là hagwon dạy học đến 2 giờ đêm và khi bị chính phủ cấm dạy muộn thì chuyển sang bắt đầu dạy từ… 3 giờ sáng để… các em kịp đến trường.
Biển quảng cáo dày đặc cho các Hagwon (tiếng
Việt: Học viện), là một dạng trường tư thục hợp pháp dạy phụ đạo tiếng
Anh, nghệ thuật, võ thuật cho đến các môn văn hóa nhưng trá hình dạy
thêm nhồi nhét các môn thi chuyển cấp và đại học. Trẻ em thường bắt đầu
đi học hagwon từ lớp Một.
Gia đình và nhà trường đặt kỳ vọng rất lớn vào
một đứa trẻ từ khi bắt đầu đi mẫu giáo, nên đến lúc thi đại học lại càng
quyết liệt, đỗ đại học còn là thể diện của bố mẹ với đồng nghiệp, của
ông bà với họ hàng, trường này với trường khác và của chính đứa trẻ với
bạn bè. Áp lực khủng khiếp đấy khiến gần một nửa số học sinh cấp ba trả
lời điều tra của bộ Giáo Dục là “đã từng nghĩ tới tự tử vì áp lực thi
cử”. Trong thời gian tổ chức kì thi quốc gia, công sở mở cửa muộn hơn
bình thường (10 giờ sáng) vì phụ huynh phải thức đêm giúp con ôn thi,
các điểm giải trí, thể thao phải đóng cửa sớm hơn bình thường (6 giờ
tối) để học sinh có không gian yên tĩnh ôn luyện. Cả nước bị cuốn vào kì
thi quan trọng này (kì thi được mệnh danh là “tạo ra hoặc phá hoại
tương lai một con người”).
Trong số sinh viên các nước đi học tiếng Anh ở
nước ngoài thì kém hơn Việt Nam chỉ có thể là Nhật Bản và Hàn Quốc. Mặc
dù Chính phủ tiêu nhiều tiền nhất cho việc dạy và học tiếng Anh nhưng
khả năng tiếng Anh của học sinh Hàn Quốc vẫn nằm trong top kém nhất châu
Á. Chương trình dạy tiếng Anh với mục đích phục vụ thi đại học nên chỉ
tập trung vào đọc, viết và ngữ pháp còn nghe, nói không được quan tâm.
Một lớp có khoảng 40 học sinh (quá đông so với tiêu chuẩn phương Tây)
nên giáo viên không thể quan tâm hết đến từng em. Môn thể dục bị các
trường phớt lờ và học sinh gần như không có một cơ hội nào thoát khỏi
vòng quay học và thi.
Trong một lớp học thêm. Hệ thống giáo dục chỉ
có một bộ sách giáo khoa làm chuẩn khiến giáo viên buộc long dạy kiểu
“trên bảo dưới phải nghe”, học sinh buộc phải ghi nhớ y nguyên để phục
vụ thi cử. Mục đích của giáo dục Hàn Quốc (và Nhật Bản) là chấp nhận hi
sinh sự sáng tạo của (thiểu số) cá nhân có tiềm năng để tạo ra (đa số)
những người nề nếp, quy củ, kỷ luật để sống trong một xã hội có trật tự
trên dưới rõ ràng. (Ảnh từ trang này)
Vào đến đại học tưởng thoát nhưng lại càng học
vất vả hơn, mà ra trường cũng không làm được việc vì học quá nặng lý
thuyết, các công ty phải đào tạo lại. 80% học sinh vào đại học nên thiếu
người học nghề, không đủ thợ và công nhân được đào tạo trong khi cử
nhân ra trường tranh nhau việc ở các chaebol. Cả xã hội trọng
bằng cấp theo lối thời xưa, làm quan to hơn thì học vấn phải cao hơn,
làm lãnh đạo thì phải học trường xếp hạng cao hơn cấp dưới.
Thất vọng với nền giáo dục trong nước, người Hàn
Quốc cho con đi du học rất nhiều, hoặc đơn thuần chỉ đi học tiếng Anh,
đặc biệt là đi Mỹ. Điều này khiến cho số sinh viên Hàn Quốc tại Mỹ vượt
cả hai đại gia chuyên nghề “đi du học” là Trung Quốc và Ấn Độ.
Còn rất nhiều điều nữa nhưng nếu những dòng trên
không được nói rõ là ở Hàn Quốc thì chắc hẳn nhiều người nhầm tưởng đang
kể chuyện thường ngày ở Việt Nam. Chuyện ở Việt Nam cũng tương tự chỉ
là mức độ chưa nghiêm trọng như trên mà thôi (hay là sắp?!). Nên mỗi lần
mình đọc thấy có ai ca ngợi giáo dục Hàn Quốc hay muốn bê về nước bộ
sách giáo khoa, hoặc nghe thấy “triết lý” của một vị PGS.TS uy tín, hay
phát biểu trên mạng xã hội, nói: “Đã học là phải thi” thì lại giật mình
thon thót. Chợt nghĩ đến chữ “sĩ tử” mà mỗi lần thi đại học ở ta diễn ra
lại được các báo thi nhau nhai đi nhai lại, ngẫm mới thấy những câu cụ
Ngô Tất Tố viết một trăm năm trước đến nay vẫn không hề lạc hậu:
“Ngày nay nghe đến hai tiếng “Lều”, “Chõng” có
lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ vì những vật ấy từ biệt chúng ta mà đi đến
chỗ mất tích đã gần ba chục năm nay.
“Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở
lên, cho đến hơn một nghìn năm, “Lều” “Chõng” vẫn làm chủ vận mệnh của
giang sơn cũ kỹ mà người ta vẫn khoe là “bốn nghìn năm văn hiến”. Những
ông ngồi trong miếu đường làm rường làm cột cho nước nhà, những ông ở
nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong hóa, đều ở trong đám
lều chõng mà ra. Lều Chõng với nước Việt Nam không khác một ông tạo vật,
đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng hoặc vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa, rồi lại chính nó đã đưa nước Việt Nam đến cõi diệt vong.Vì
nó, nước Việt Nam trong một thời kì rất dài đã phát hiện ra nhiều cảnh
tượng kỳ quái, có thể khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rùng
rợn hồi hộp.”
0 nhận xét:
Đăng nhận xét