Hoàng Hưng chuyển ngữ
(sinh 1943), được giới Thơ Mỹ đánh giá là một trong những tác giả thơ
tài năng nhất còn đang viết của nước này, vừa giành Huy chương Vàng về
Thơ của Viện Hàn lâm Văn học Nghệ thuật Hoa Kỳ (AAAL) năm 2015. Bà là
tác giả của 10 tập thơ, đã từng nhận Giải Pulitzer, Giải của Hội Phê
bình Sách Quốc gia, mới nhất là Giải Sách Quốc gia (2014) và nhiều giải
thưởng uy tín khác của Mỹ. Bà được Thư viện Quốc hội Mỹ chọn là Thi Khôi
Hoa Kỳ (Poet Laureate of America) năm 2004. Huy chương Vàng AAAL bắt
đầu được trao từ năm 1909, là một trong nhiều hình thức khuyến khích
sáng tạo nghệ thuật với tổng trị giá khoảng 1 triệu đô la một năm của tổ
chức này (tổ chức AAAL ra đời năm 1898).
Thơ Louise Glück nhạy
cảm và kiệm lời, thường bắt đầu với những cảm xúc nhức nhói về tình
yêu, sự sinh nở và cái chết. Các hình ảnh của thơ bà hiện ra tự nhiên
nhưng bất ngờ, và dễ dàng đi từ một cảm nhận trực tiếp tới một từ trừu
tượng.
Nhân dịp này, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc Văn Việt một bài viết về Thơ và một chùm thơ của Louise Glück
H.H.
Thơ là phong cách của tư tưởng[i]
Thiếu
chúng ta thế giới vẫn hoàn chỉnh. Một sự thật không thể khoan thứ. Nhà
thơ đáp lại bằng cách nổi loạn, muốn chứng tỏ rằng không phải thế. Do
lòng tự trọng bị tổn thương, niềm tự hào ương ngạnh hoặc nhu cầu tuyệt
vọng, nhà thơ kinh niên tranh cãi với sự thật, và một điều kinh ngạc xảy
ra: một sự thật khác được tạo nên, giống như một thành tố mới có phần
đối nghịch với điều không thể khoan thứ. Một giọng không thể xoá bỏ, dù
không tác động gì tới vũ trụ tới nhân sinh, nhưng làm thay đổi sâu sắc
kinh nghiệm của chúng ta về vũ trụ ấy cũng như về thế giới những quan hệ
nhân sinh. Đối với tất cả cái gì là cô đơn nhất trong các bản chất của
chúng ta, nó là người bạn đồng hành nâng dắt.
Văn
chương, một từ khủng khiếp. Nó thiếu hoàn toàn cảm giác về sức sống
quyết liệt của giọng. Như một sự trừu tượng hóa, nó biến thành một cái
gì đó hồn lìa khỏi xác, một điều đã giải quyết xong, trơ ì và xa cách.
Trong khi đó thơ cất lên từ trang giấy lại năng động diệu kỳ: quyến rũ,
đòi hỏi, cay đắng, thông tuệ. Nó không cất lên từ quá khứ mà từ ngay
hiện tại.
…
Thật thú vị khi biết được đôi điều về phẩm chất ấy, bởi vì bài thơ, bất
kể nội dung nó nói gì, sống sót không nhờ nội dung mà nhờ giọng nói.
Nói giọng là tôi muốn chỉ cái phong cách (style) của tư tưởng, cái đó
không hoàn toàn giống như phong cách của lời nói: – những sự ghép mượn,
những điệu bộ thành thói quen… Chúng tôi nhờ cậy vào khái niệm giọng
(voice) với tất cả những bất túc của nó; ít nhất thì nó cho ta nghĩ tới
âm thanh của một hiện hữu chính cống. Dù cho âm thanh ấy có thể dựa vào
cách nói thực sự của nhà thơ, nó cũng không phải là bản sao của cách
nói. Giọng nói có quyền tự do trích ra, nhấn mạnh, bỏ qua cái gì nó
muốn, tự do xuất phát từ những điều kiện mà thế giới thực tại không bao
giờ sản sinh ra một cách đúng hệt; không giống như lời nói, nó không
chứa đựng một áp lực xã hội tức thời, bởi vì kẻ mà nó cố gắng làm cho
hiểu được thì chưa hiện hữu. Bài thơ muốn tạo ra con người đó, trước
tiên ở nhà thơ, sau đó ở người đọc. Như vậy, sự trung thành của nó không
phải là với thực tại bên ngoài: nó không cần cung cấp một bản sao của
cái bên ngoài, hay của những quan hệ xã hội. Chính vì thế mà thời gian
thường sẵn sàng đưa đến ý nghĩa chính trị nhiều hơn cho các tiểu thuyết
phi chính trị: chẳng hạn những tiểu thuyết lãng mạn thế kỷ 19 đã không
nhất thiết được coi là những phát biểu mang tính chính trị, chúng trở
thành những phát biểu như thế là dưới ánh sáng của tinh thần đương đại
sẵn sàng chính trị hóa các mối quan hệ nam nữ. Đối với nhiều người đọc,
tiểu thuyết dường như dễ hiểu hơn một cách lạ thường, vì họ bị tính độc
lập của bài thơ đánh đố, cũng như bị đánh đố bởi tính đích thực dễ làm
nản lòng của giọng. Sự tin tưởng rằng các bài thơ tất phải là tự nguyện
của tác giả (bởi chúng không mô tả) bắt đầu từ đây, nó nằm trong niềm
tin của người đọc rằng cái thật và sự thật (the truth) đồng nghĩa với
nhau.
Các
bài thơ là tự nguyện nhưng đã được gạt bỏ những dấu hiệu bề ngoài của
biên niên và bình luận, sự liên tục thay nhau của giai thoại và phụ họa.
Hơn nữa, phần chính yếu của tác phẩm có thể thay đổi và phát triển, ít
theo phản ứng đối với đời sống bằng theo phản ứng đối với những khám phá
trước đó của nhà thơ, hoặc là với những khám phá của các nhà thơ khác.
Nếu một bài thơ được khuyếch đại một cách có chọn lọc như thế, hững hờ
với sự thật như thế, khiến nó dường như khó nắm bắt, thì chúng ta phải
nhớ rằng điều nó quan tâm tới không phải, hoặc không đơn giản là ghi lại
cái thật mà là tiếp tục tạo nên cảm giác đắm chìm trong cái thật. Và
nếu như, trong sự cố gắng để giải phóng mình khỏi cái tôi giam hãm, cái
nhìn của nhà thơ hướng ra bên ngoài, thì nó cũng nhắm vào cái gì ràng
buộc hoặc lôi cuốn nó. Những sự lựa chọn ấy tạo nên một chân dung. Ở chỗ
cái nhìn dừng lại, thì giọng hay lời đáp bắt đầu. Nhà thơ luôn cảnh
giác với những gì xảy ra tiếp sau đó, kháng cự lại giáo điều và thời
trang, kháng cự lại nguy cơ còn lớn hơn của niềm tin riêng, niềm tin ấy
phải bị nghi ngờ vì nó có vẻ giống như giáo điều.
Những
bài thơ làm ta cảm động, thì ta phải bị chúng lôi cuốn như sắt bị nam
châm hút. Điều gì khiến việc đó có thể xảy ra, đâu là những đặc trưng
của các giọng đầy sức sống có năng lực cười nhạo đá xanh và giấy trắng?
Tôi nghĩ không phải bởi chúng đẹp hay nói lên sự thật. Trong hai yêu cầu
ấy, thoạt nhìn thì cái thứ hai có vẻ lớn lao hơn và dễ đạt được hơn bởi
vì sự thật dễ dàng tự đồng nhất với sự chân thành, trái ngược với sự
sáng suốt. Sự thật của nghệ thuật khác biệt với sự bộc lộ lương thiện
lòng chân thành cũng như nó khác biệt với sự thật được ban phát ở phòng
mạch của bác sĩ. Bài thơ có thể chứa đựng cái sự thật dường như sáng
ngời ấy, nhưng điều khiến nó sống động không phải là sự khám phá đã cố
định mà là các phương cách khám phá; cái làm nó sống động là trí tuệ.
Không
có ai tranh cãi về mong muốn có trí tuệ. Câu hỏi đặt ra là trí tuệ tự
nó biểu hiện cách nào, sự đầu tư vào sự thật bắt buộc phải bao hàm trí
tuệ như thế nào?
Câu
hỏi thứ hai trước. Nghệ thuật không phải là sự phục vụ. Hay nói đúng
hơn, nó không phục vụ một cách tin cậy tất cả mọi người theo một lối
được tiêu chuẩn hóa. Sự phục vụ của nó là nhắm vào tinh thần, từ đó nó
giúp ta thoát khỏi sự trơ ì. Nó thực hiện việc ấy bằng cách hội tụ lại
một hình ảnh hiện hữu của thế giới; theo nghĩa ấy, nó không phải là tấm
gương phẳng mà là kính hiển vi – từ màu trắng phẳng lì của trang giấy,
một trường năng lượng trỗi dậy. Tuy nhiên, sự thiếu vắng chức năng xã
hội và tính hữu ích xã hội đôi khi đi liền với một khao khát phục vụ,
khao khát làm việc tốt trong lòng thi sĩ. Sự thiếu vắng và sức ép ấy dẫn
nhà thơ tới tính giáo huấn. Sự dạy bảo, khôn ngoan, đạo lý, cao cả:
những cái đó rồi sẽ ru ngủ cái ngã mong manh của nhà thơ bằng cách làm
như đưa giọng của anh (chị) ta lên ngang với những giọng lớn lao – những
cảm nhận của các giọng ấy đã được thu nhận như chân lý. Nhưng để làm ra
thứ nghệ thuật sống động, nhà thơ phải từ bỏ sự biện minh ấy, bởi vì
cái mà nó tạo ra là sự lặp lại. Nói thế có nghĩa là, không phải cảm nhận
mà chính sự thành kính đã làm giả cái mà nó không thể sinh ra. Không
phải mũi tên mà là bộ quần áo đã bạc màu. Và cái thiếu hụt không tránh
khỏi của sự lặp lại ấy là cảm giác về tiếng nói xuất phát từ một giọng
đặc biệt, có thể nhận dạng được, cái thiếu hụt là cảm giác tức thời, dễ
tan biến, những thứ đem đến cho những giọng ấy, một cách nghịch lý, sự
bền vững. Bất kể bản chất của những giọng nói ấy là gì, bất kể chúng
xuất hiện ở đâu trên con đường giữa cái bất chợt và cái bí
hiểm, sự minh thị, như người ta thường nói, xảy đến giống như một biến
cố choáng ngợp: hoàn toàn vắng mặt và do đó không thể tránh khỏi. Và
điều ấy xảy đến một cách bí mật hoặc là với một vẻ vô cầu, thắc mắc mặc
nhiên hay thấu thị.
Ở
nơi người đọc, những lúc ấy, một ý tưởng bị tấn công, và sự tấn công
làm người ta phấn chấn, ý tưởng cũ chưa được phát biểu nhiều đến mức
được chấp nhận âm thầm, trong sự mơ hồ không được thừa nhận cũng không
bị bác bỏ, nay bị thay thế bằng cảm nhận. Thế là cái cảm tích cực ào tới
thay thế cái không được khảo sát thụ động làm lung lay tất cả những gì
xây dựng trên nền đất ấy, và không khí trở nên choáng váng với sự có
thể, như thể một lãnh thổ hoàn toàn mới trong tâm tưởng thình lình được
mở ra. Không có gì bị phá hỏng mà tiếp tục được lượng giá – đúng hơn là
không gian được bổ sung. Những gì bị hy sinh hoặc rơi rụng dường như chỉ
mờ đục đi, trở thành sự ngớ ngẩn lờ đờ. Ngay cả khi biến đi cái cảm
giác về nỗi cô đơn được chia sẻ, cái còn lại vẫn gợi lên sự phồn thực
của nỗi cô đơn.
Còn
như đối với nhà thơ: chỉ sự khó chịu, chỉ hoài nghi những ý tưởng bị
tiếp nhận thôi thì không thể đủ. Bài thơ phải, ở một mức độ nào đấy, gạt
bỏ sự giả định, không chỉ đơn giản bằng cách đối lập với nó, mà bằng
cách thao túng sự chứng nghiệm có hệ thống mà nó phụ thuộc vào một cách
không tránh khỏi. Nói cách khác: không phải “C sai” mà “ai bảo A tất yếu
dẫn tới B?”. Sự nghiêm túc cao độ, trong lốt hóa trang thông thường là
sự điềm đạm chán ngắt, là một trong các mục tiêu dễ đạt nhất của trí
tuệ.
Bài
thơ mà nhầm lời phát ngôn cao cả với cảm nhận, nhầm sự tin tưởng với
trí tuệ thiết tha, thì đã chứa sẵn một sự khôn ngoan mà nó muốn trao cho
người đọc. Dù cho bài thơ như thế có thể được tổ chức một cách đầy kịch
tính và sẽ có vẻ có được khoảnh khắc đỉnh điểm, nó vẫn thiếu kịch tính:
người ta nhận ra ngay ý đồ của nó. Những bài thơ như thế đã thay tính
từ vào danh từ, chúng cho ta một thế giới bị phủ bởi màn tham khảo có
tính huyền thoại. Nhưng do chứa đầy ý chí mà chúng thiếu mất tính định
mệnh của huyền thoại, thiếu mất sự kỳ ngộ bất lực huyền thoại với cái
mạnh mẽ của thiên nhiên. Thay vào đó, mọi thứ đã được đầu tư vào kết
luận, vào sự thật hiển nhiên, vào sự lớn lao hào hùng. Tôi nghĩ rằng trí
tuệ thi ca không có sự đầu tư vào kết luận như thế, vì nó cảnh giác một
cách tự nhiên với những giả định của chính nó. Nó lấy năng lượng từ một
ý nguyện vứt bỏ các kết luận khi đối diện với cái hiển nhiên, trên thực
tế là ý nguyện vứt bỏ bất cứ cái gì.
…
Giọng nói chưa hề có chỉ có thể xuất phát từ cuộc đời chưa hề có, cuộc
đời hoàn toàn trải nghiệm (dù phiêu lưu hay khép kín) và không có sự đơn
giản hóa về tình cảm, cái khái quát lâu bền liên tục bắt nguồn từ đời
sống cá nhân được chấp nhận.
CAM DỎM
Không phải là trăng, anh biết chứ.
Đó là những bông hoa
đang chiếu sáng cả sân nhà.
Tôi ghét chúng.
Tôi ghét chúng như tôi ghét tình dục,
miệng gã đàn ông
bịt chặt miệng tôi, tấm thân
tê cứng của gã đàn ông –
và cái tiếng kêu luôn luôn buột ra,
cái tiền đề thấp kém, nhục nhã
của sự liền một thịt –
Trong tâm trí tôi đêm nay
tôi nghe thấy câu hỏi và câu trả lời tiếp đó
hòa thành một âm thanh
dâng lên dâng lên và rồi
phân thành hai bản ngã cũ kỹ,
những đối nghịch mỏi mệt. Anh thấy không?
Chúng ta bị lừa phỉnh.
và cái mùi cam dỏm ấy
trôi giạt qua cửa sổ.
Làm sao tôi có thể nghỉ ngơi?
Làm sao tôi có thể vừa lòng
khi vẫn còn
cái mùi ấy trên đời?
1985
NÚI
Các sinh viên nhìn tôi chờ đợi.
Tôi giảng cho họ rằng đời nghệ thuật là một đời
lao động không ngừng. Nét mặt của họ
hầu như không thay đổi; họ cần biết
thêm chút nữa về sự lao động không ngừng.
Vậy là tôi kể họ nghe câu chuyện chàng Sisyphus
đã phải chịu số phận của mình ra sao, phải
vần một tảng đá lên núi như thế nào, biết rằng cố gắng
chẳng đi tới đâu
nhưng vẫn làm đi làm lại
không bao giờ ngừng. Tôi bảo họ
có niềm vui trong đó, trong đời sống của người nghệ sĩ,
vốn bất cần
phán xét, và trong lúc tôi nói
chính tôi cũng đang bí mật vần tảng đá,
âm thầm vần tảng đá lên triền dốc
đứng của một trái núi. Vì sao tôi
nói dối bọn trẻ kia? Họ có nghe đâu,
họ chẳng bị lừa, ngón tay họ
gõ gõ mặt bàn gỗ –
Thế là tôi kể lại
huyền thoại ấy; bảo rằng chuyện ấy xảy ra
dưới địa ngục, rằng người nghệ sĩ nói dối
vì anh ta bị thành công ám ảnh,
rằng anh ta coi đỉnh cao
là cái nơi anh ta sẽ sống mãi mãi,
cái nơi sắp bị
biến đổi vì gánh nặng của anh ta: từng hơi từng hơi thở,
tôi đang đứng trên đỉnh núi ấy.
Cả hai tay tôi rảnh rang. Và tảng đá đã thêm
độ cao cho trái núi.
1985
NHỮNG CÂY DU
Cả ngày tôi cố phân biệt
nhu cầu với dục vọng. Giờ đây, trong tối,
Tôi chỉ thấy cay đắng buồn cho chúng ta,
những thợ xây thợ bào,
vì tôi đã nhìn
không rời mắt những cây du kia
và đã thấy tiến trình tạo thành
cái cây quằn quại, đứng nguyên một chỗ
là nỗi dằn vặt, và đã hiểu
nỗi dằn vặt ấy chỉ có thể tạo ra những hình thể vặn vẹo mà thôi.
1985
0 nhận xét:
Đăng nhận xét