Nguyễn Đức Tùng bình thơ Mỹ

Thanh Thảo








clip_image002


 



Đọc Nguyễn Đức Tùng, thấy thơ và văn hóa Bắc Mỹ
đã vào anh rất sâu. Cái nhìn của anh không còn đơn thuần là cái nhìn của
một người Việt đọc thơ Mỹ nữa. Nó hòa trộn (mélangé) giữa cảm tính của
người Việt và lý tính của người Mỹ, thơ trừu tượng – cụ thể của người
Việt và thơ cụ thể – trừu tượng của người Mỹ. Nó tìm đến chiều sâu của
câu thơ, hoặc vài ba từ trong câu thơ bằng “kỹ thuật thăm dò” của phương
Tây, và bằng cảm xúc của phương Đông, chứ không đơn thuần bằng cách
phân tích của người Mỹ và bình tán của người Việt. Điều đó khiến những
bài viết về các nhà thơ Mỹ rất khác nhau của Nguyễn Đức Tùng lại mang
được một phong cách thống nhất. Vì anh vẫn là người Việt. Tuy vậy, anh
đã là người Mỹ (Bắc Mỹ). Hai cái này không hề chỏi nhau trong cách bình
thơ của Nguyễn Đức Tùng. Ngược lại, nó tạo ra sự khác biệt trong phong
cách của anh. Cái này, người Việt đọc thấy thích thú, và tôi nghĩ, có lẽ
người Mỹ đọc cũng vậy.



Ở Việt Nam người ta hay nói: “Hòa nhập nhưng
không hòa tan”. Tôi lại nghĩ khác. Khi hòa nhập, chúng ta phải hòa tan,
thì sự hòa nhập ấy mới tạo ra được giá trị mới, phẩm chất mới. Chứ nếu
cứ trơ trơ ra, cứ “cái gì ra cái ấy”, không tạo nên bất cứ phản ứng nào,
thì làm sao có được sự “hòa huyết” để có những “đứa con” là kết quả của
hai dòng máu.?


Đọc Nguyễn Đức Tùng, thấy anh hòa nhập khá nhanh
vào văn hóa Mỹ, và khó hơn, nhưng thú vị hơn, là hòa nhập được vào thơ
ca Mỹ (chủ yếu là Bắc Mỹ). Thơ Mỹ khác với thơ châu Âu, khác cả với thơ
Anh – dù chịu ảnh hưởng “nguồn” của nền thơ này. Nhưng khi thơ Mỹ là của
người Mỹ, được sáng tạo bởi người Mỹ, thì nó lại được đón nhận như thơ
của phần nhân loại ngoài Mỹ, được đón nhận như một phần độc đáo của thơ
nhân loại, chủ yếu là trong thế kỷ hai mươi. Bởi đó là thế kỷ chín rộ
của thơ Mỹ.


Những nhà thơ mà Nguyễn Đức Tùng chọn giới thiệu
và phê bình ngẫu hứng trong tập sách này đều tiêu biểu về nhiều mặt của
thơ ca Mỹ và Canada. Mỗi người mỗi kiểu, thơ họ rất khác nhau, nhưng đều
là thơ Bắc Mỹ chính hiệu. Đọc vào là thấy ngay.





Bất cứ cái gì di chuyển đều trắng muốt





(Leonard Cohen)





Và Nguyễn Đức Tùng bình luận: “Một ngôn ngữ thơ nặng về xúc cảm ít làm ngạc nhiên. Nhưng Cohen chống lại quy ước ấy. Ngôn ngữ dù rõ ràng, hình ảnh vẫn mờ ảo.” Đó là lời bình ngắn gọn và chính xác. Ngôn ngữ rõ ràng thuộc về phong cách thơ, còn hình ảnh mờ ảo thuộc về bản thể của thơ.


Văn học trong sáng và sòng phẳng. Trong lĩnh vực
này, anh tới đâu thì là tới đó. Không ít hơn. Cũng không nhiều hơn. Vì
thế, phải hết sức bình tĩnh.


Tôi đã học sự bình tĩnh trong nhiều năm, nhưng
tôi biết, đây là bài học không dễ dàng. Có những bài thơ khi mới viết,
mình cảm thấy hay. Rồi qua nhiều tháng năm đọc lại, hình như không còn
hay nữa. Ngược lại, có những bài thơ ban đầu mình không để ý nhiều, thậm
chí mình vứt đâu đó trong những cuốn sổ tay nhỏ. Bao năm sau, chợt lấy
ra đọc lại, như có gì hút mình vào nó, hay một va đập mới từ nó khiến
mình bồn chồn. Bài thơ như tự lột xác trước mắt mình. Nó đòi mình phải
nhìn nó bằng ánh nhìn khác, chấp nhận nó bằng giác cảm khác. Đó không
chỉ là thơ mình, mà thơ người khi mình đọc nhiều khi cũng vậy. Tôi có
cảm giác Nguyễn Đức Tùng đã “đọc lại” nhiều nhà thơ Mỹ, nhiều bài thơ
Mỹ, như anh đã viết về xuất xứ của tiếp xúc với bài thơ, dù là nghe hay
đọc. Hầu hết là tình cờ, như ngẫu nhiên. Nhưng chính những lúc ấy, thơ
vào ta trọn vẹn nhất.


Cũng như với trường hợp thơ Thu Bồn mà tôi muốn
nói đôi lời ở đây. Nhiều người nhận xét, cái mạnh nhất của thơ Thu Bồn
là sự trào cuộn của bản năng sống. Đúng. Nhưng vì sao thơ Thu Bồn lại
như thế? Tôi xin trích một đoạn trong cuốn sách tôi mới viết (chưa in)
đoạn nói về con người và “bản năng gốc” của nhà thơ Thu Bồn:


Thu Bồn là người rất dễ cảm động. “Cây
kơ-nia” cứng rắn ấy nhiều khi khóc như trẻ con. Đó là một trong những
nhà thơ hồn nhiên nhất mà tôi biết. Tháng 5/1975, mấy anh em chúng tôi
cùng Thu Bồn ở trong một căn hộ thuộc chung cư 190 Công Lý. Chung cư này
vốn của quân đội Mỹ, dành riêng cho sĩ quan tình báo CIA của Mỹ. Vì
thế, trên sân thượng chung cư có sân bay trực thăng dã chiến. Nghe nói,
những sĩ quan CIA Mỹ chủ chốt ở chung cư này đã di tản từ sân bay dã
chiến trên sân thượng chung cư 190. Lúc đó thì nói thật, chúng tôi chả
quan tâm lắm. Ở thì ở, thế thôi. Sĩ quan CIA, ghê thật đấy, nhưng chạy
đâu mất rồi! Thậm chí, tôi cũng không thuộc diện ở đó. Lang thang cơ
nhỡ, tôi cứ thấy bạn bè mình ở đâu thì tấp vào ở cùng, qua ngày đoạn
tháng vậy thôi. Một buổi tối, chúng tôi đang xem hay chuyện trò gì đó
với nhau. Riêng Thu Bồn, anh chăm chú nhìn sang ngôi biệt thự bên cạnh,
hình như bên ấy đang có chuyện gì thu hút lắm. Khi chúng tôi thấy anh
nhìn đăm đắm lâu như vậy, mới nhìn theo, thì… eo ôi, đúng là có chuyện.
Một đôi trai gái đang làm tình với nhau, đèn điện vẫn sáng, và họ thì
bất kể xung quanh, vẫn mê mải theo nhịp rock dữ dội. Thu Bồn có vẻ hâm
mộ lắm, anh nhìn không chán. Dĩ nhiên, chúng tôi, những thằng con trai
tân mới từ trong rừng ra, cũng vừa sợ hãi vừa… thích thú trước “sự kiện”
này. Đột ngột, sau một hồi “xem phim… miễn phí”, Thu Bồn chợt kêu to
lên: “Nứng c. quá, trời ơi!”. Một tiếng kêu thét khiến tất cả chúng tôi
rụng rời! Vì nó thật quá, thật hơn cả thơ ca, văn xuôi, hay kịch. Nó
mãnh liệt quá, mãnh liệt hơn cả cuộc làm tình theo nhịp rock của đôi
trai gái kia. Đó như là tiếng kêu bị nén lại suốt cả ba mươi năm, giờ
bật ra. Mà chỉ có Thu Bồn mới kêu lên được tiếng kêu cực kỳ nhân bản ấy.
Đó là một khao khát có thật của con người, dù cố giấu hay bộc lộ.



Một tiếng kêu khép lại ba mươi năm chiến tranh.” (trích “Lang thang qua chiến tranh” – bản thảo)


Bản năng gốc của nhà thơ chi phối thơ anh (hay
chị) ta. Nhưng cũng còn bản năng gốc của cộng đồng, nơi cư trú, cũng góp
phần rất lớn chi phối thơ của nhà thơ. Bản năng gốc của cá nhân nhà thơ
tạo nên sự khác biệt riêng và bản năng gốc của cộng đồng và nơi cư trú
tạo nên sự khác biệt chung cho nhà thơ. Nguyễn Đức Tùng đã tinh tế khi
so sánh Cohen với Bob Dylan: “Thơ Cohen đầy thành thị.” Lại một nhận xét ngắn gọn nữa của Nguyễn Đức Tùng, không quá khó, nhưng đúng. Từ đó phăng ra, ta sẽ gặp thơ Leonard Cohen.


Có một vài tương tự giữa Leonard Cohen và Bob
Dylan, người bạn của ông, thi sĩ, người soạn nhạc, cùng Do Thái. Tuy
nhiên Dylan càng công chúng chừng nào thì Cohen càng riêng tư chừng ấy,
một bên là sân khấu, một bên là gác đêm, ngọn đèn mờ bí ẩn. Ví dụ, trong
âm nhạc, tôi nghĩ, Trịnh Công Sơn gần với Cohen hơn là Dylan. Trong thế
hệ ngay sau Đệ nhị thế chiến, con người vẫn còn gắn bó với địa chỉ cư
trú, nơi lớn lên. Chủ nghĩa hiện đại, và sự nối dài của nó, trong thơ,
xuất phát từ mối gắn bó với đời sống đô thành. Thơ Cohen đầy thành thị.



Có thể dẫn chứng nhiều nhận xét xác đáng của
Nguyễn Đức Tùng khi bình và soi chiếu thơ Mỹ bằng trái tim của một người
Việt, bằng sự hội nhập vào văn hóa bản địa Mỹ của một người Việt biết
“hòa tan” để tạo ra giá trị mới cho kiến văn và kiến giải của mình. Lại
xin trích một đoạn của Nguyễn Đức Tùng:





“Thơ tự do dùng ngôn ngữ gần với văn xuôi. Tuy
nhiên sự khác nhau giữa văn xuôi và thơ là trong thơ không có một trật
tự thứ hai. Trật tự của các chữ chính là hiện thân thực thể của một cấu
trúc cao hơn. Ví dụ như là nhạc điệu. Nhạc điệu là một vấn đề riêng tư,
cá nhân, như vân tay, như tiếng nói, là cái nền của bất kỳ sự đổi mới
nào, nơi các nhà thơ từ bỏ các truyền thống. Những hình thức thật sự mới
bao giờ cũng phản ánh nhận thức mới. Hơn thế nữa, nhịp điệu trong thơ
của một nhà thơ chính là nhịp điệu của đời sống thật của anh ta, của hơi
thở, của nhịp đập trái tim. Nó là phương cách duy nhất mà nhà thơ giữ
gìn các sự vật, đời sống, các ý tưởng và cảm xúc, cố gắng bảo tồn chúng
như hóa thạch trong thời gian.”



“Trong thơ không có một trật tự thứ hai. Trật tự
của các chữ chính là hiện thân thực thể của một cấu trúc cao hơn”. Đúng
như thế. Thơ bị qui định một lần và duy nhất bởi một cấu trúc chữ, ẩn
bên trong nó là nhạc điệu, còn cao hơn nó, trùm lên nó là nhịp điệu. Đó
là sự vận động của hình tượng thơ, mà hướng của sự chuyển động nhiều khi
khó xác định, nhất là trong thơ của nhiều nhà thơ Mỹ. Nó tạo nên sự bất
ngờ trong cái giản dị, thậm chí, trong cái tối giản:


Một kẻ không nhà


Tháo giày ra
Trước căn phòng bằng giấy các tông của mình


(bài Naomi Nye)





Còn có thể trích dẫn nhiều đoạn trong cuốn sách
này của Nguyễn Đức Tùng. Tôi chỉ muốn nói: anh đã quá tâm huyết với thơ,
nhất là với thơ Mỹ. Anh đã yêu thơ bằng một tình yêu cụ thể, giản dị,
sống động, một tình yêu như nắm lấy được, sờ thấy được mà chúng ta luôn
cảm nhận trong thơ Mỹ.


Cuốn sách này, vì vậy, rất có ích cho những ai
muốn tìm hiểu ở một chiều sâu về thơ Bắc Mỹ và những nhà thơ tiêu biểu
của nền thơ ấy. Nó cũng cần thiết cho những người Việt muốn hiểu sâu hơn
về ngôn ngữ Anh qua thơ, về những khác biệt và tương đồng trong một câu
thơ giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Cuối cùng, nó đưa ta đến với những
nhà thơ Bắc Mỹ mà lâu nay ta ngưỡng mộ nhưng ít có dịp hiểu sâu về họ và
thơ của họ.





Nguồn: Nguyễn Đức Tùng, Thơ cần thiết cho ai, nxb Hội Nhà Văn, 2015, tr. 24-27. (Đây là bản đầy đủ của nhà thơ  Thanh Thảo. Trong sách in là bản rút gọn. NĐT)





Share on Google Plus

About Unknown

Bài viết này được chia sẻ bởi Unknown.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét