Lời dẫn: Hai năm vừa qua mình viết được ba bài ưng ý, bài thứ nhất về Nguyễn Huy Thiệp (“Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn xuôi Việt Nam sau 1975”), bài thứ hai về Nguyễn Tuân (“Nguyễn Tuân – Nhà văn của hình dung từ”) và bài thứ ba về Tố Hữu (“Thơ Tố Hữu – kho “kí ức thể loại” của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa”).
Bài về Tố Hữu vừa đăng xong trên tạp chí “Nghiên cứu văn học” của Hữu
Sơn thì Hoàng Dzũng lại lấy đăng trên “Văn Việt”. Trước đó, nó được chia
thành nhiều bài nhỏ đăng trên tạp chí điện tử “vanhoanghean.com.vn”.
Ngày 24/3/20015, fb “Mậu Nguyễn Đức” đã kéo link bài “Ca thi và đại cáo trong thơ Tố Hữu” để
nhiều người cùng đọc. Phần “Bình luận” về bài viết dưới “stt” này đã
tạo thành một cuộc đối thoại nho nhỏ, tuy có chút gay gắt, nhưng không
kém phần sôi nổi, vì mỗi người tham gia đều thể hiện rõ chính kiến của
mình. Mình đăng lên Blog cá nhân để giữ lại làm kỉ niệm. Mời các bạn
cùng chơi fb đọc thư giãn giữa những ngày nóng bức.
L. N. (La Khắc Hòa)
Lại Nguyên Ân: Tôi đọc những phân tích này [**]
và muốn hỏi: Đây là phê bình hay nghiên cứu? Sự khảo sát, nhận xét ở
đây rốt cuộc là khen hay chê đối tượng được khảo sát? Có lẽ điều khá rõ
là khen! Khen thơ Tố Hữu như là thơ đề cao hoạt động cách mạng, thủ lĩnh
cách mạng như là thần thánh. Cho nên nếu ban đầu ta (có ai đó trong
chúng ta) ngạc nhiên vì thấy Văn nghệ quân đội hay Văn hóa Nghệ An yên
tâm đăng những nghiên cứu này, thậm chí còn tặng thưởng tác giả nữa, thì
rốt cuộc phải thấy mọi thứ đó là hợp lý. Chỉ có điều, đứng về phía lý
tưởng (thẩm mỹ – xã hội) của sự phê bình, thì hình như rất cần chất vấn:
Các sáng tác thơ Tố Hữu là hay hay dở so với các kiểu mẫu văn chương
nhân loại? Chúng đi theo chiều thuận hay nghịch so với các yêu cầu nhân
bản, nhân đạo, trọng dân chủ, nhân quyền? Và nếu những sáng tác ấy không
ở chiều thuận với xu thế xã hội thẩm mỹ ta mong muốn, thì phải chăng là
nên chọn cách “kính nhi viễn chi” – không nói không bàn đến cái di sản
thi ca ấy trong một thời gian dài, để những kẻ sùng bái nó sẽ chết cái
chết tự nhiên cùng với nó – như xử sự của phần đông nghiên cứu sinh hiện
nay, thì hơn là nêu ra thực chất, cơ cấu có vẻ rất hay của nó – như
cách của nhà nghiên cứu ở đây? Mậu Nguyễn Đức,Bình Nguyên cho ý kiến?
Khac Hoa La: Mậu Nguyễn Đức Ý kiến trong bài viết rồi. Có gì phải nói thêm nữa đâu! Tôi viết rất rõ mà! Anh Lại Nguyên Ân
muốn khi viết cứ phải khen, hoặc chê. Tôi không biết viết phê bình theo
kiểu ấy. Tôi chỉ biết khảo cứu và trình ra trước người đọc các bằng
chứng thôi.
Chu Văn Sơn: Từ thế kỉ trước đến nay, thơ Tố Hữu được khảo đả quá nhiều. Đọc bác Hoà, thấy giờ này mà chỉ KHẢO thiếu ĐẢ, bác Ân buồn.
Lại Nguyên Ân:
Kiểu KHẢO của anh Hòa, đã có hiệu ứng thế nào: người của Tuyên huấn
khen, các báo chính thống (VNQĐ, VHNA) đăng tải và tặng giải. Những
người ấy hoặc quá ngu ngốc (?), không hiểu cái thâm ý mà nhà nghiên cứu
gửi vào các bài viết, hoặc là cái thâm ý ấy chỉ có vẻ là thế ( = ý thâm)
trong sự rỉ tai của tác giả với bạn bè, chứ thật ra đó vẫn là sự đề cao
giá trị thơ ca Tố Hữu, một sự đề cao mà những nhà Việt học từ các nước
phát triển sẽ rất khó chấp nhận. Vậy thì, trong khi số đông sinh viên,
nghiên cứu sinh tìm mọi cách tránh phải viết và nói về thơ Tố Hữu, trong
khi số đông nhà văn, nhà phê bình tránh nói về di sản thơ Tố Hữu, lý do
là vì thơ ấy gắn bó hữu cơ với kiểu tuyên truyền chính trị mà một số
đông công chúng ngày nay chán ghét, đang muốn nó vĩnh viễn lùi vào quá
khứ… Trong không khí ấy, một nhà nghiên cứu sẽ là gì, sẽ có vai trò gì
(thúc đẩy tiến bộ nhận thức hay trì kéo kiểu nhận thức cũ, níu kéo các
giá trị cũ?) với việc quay lại KHẢO đi sản thơ ca ấy theo cách chúng ta
đang thấy? Xin hỏi Mậu Nguyễn Đức, Bình Nguyên, Nguyen Thi Thanh Xuan, Chu Văn Sơn, v.v.
Khac Hoa La: Tôi hiểu cách đọc văn của anh Lại Nguyên Ân
rồi. Anh không phản biện luận điểm của tôi. Luận điểm của tôi là thế
này: Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa (Tố Hữu là “lá cờ đầu”) là văn
học “tán dương” (“Ca thi”), vì “tán dương” nên rất “réo rắt”. Anh Ân
không bàn tới luận điểm quan trọng ấy, chỉ nói về các bài viết của tôi
được đăng báo giấy, báo mạng và được giải thưởng. Ấy là cách đọc của các
cầu thủ bóng đá “bỏ bóng đá người” đấy. Tôi sợ kiểu “đọc” này lắm lắm! Mậu Nguyễn Đức, Bình Nguyên
Mậu Nguyễn Đức:
Chưa nói chuyện nội dung bài này muốn nói gì, nói chuyện từ ý tưởng tác
giả bài viết đến đọc giả tiếp nhận đã có lệch nhau hay trùng nhau. Anh Lại Nguyên Ân
đã nói đến cách đọc của mình và nghĩ đến tác động đến đôc giả, đấy cũng
là một ý kiến phản ứng cần được nêu lên. Nhưng cũng nên thấy độc giả
bây giờ đã ít nhiều trưởng thành, gây ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực
đến họ không dễ dàng. Chọn món ăn cho họ là việc cần nghĩ đến của mỗi
trang, nhưng cho họ nếm nhiều nhiều và rộng rãi, ít kiêng khem, ít dè
dặt thì mới có cái mới xuất hiện. Đưa Tố Hữu lại như xưa thì chắc chắn
là không thể, đưa Tố Hữu về vị trí thực có dễ không, có cần thiết không,
có nên đưa ra không, thiết tưởng cũng chẳng nên đặt vấn đề này ra. Vậy
thì thế hệ anh Khac Hoa La
có ý nghĩ gì cứ viết ra. Tố Hữu hay ai còn ám ảnh thì cứ viết ra. Báo
mạng đủ chỗ cho các ý kiến tự do thể hiện, và trên đó nên có một không
khí tự do. Vấn đề là xem không khí phản ứng (lặng lẽ hay ồn ầo) để đo
lường sự tiếp nhận của cộng đồng là một việc thường xuyên mang tính trắc
nghiệm của người cung cấp thông tin cho độc giả. Nói hơi dài, sẽ trở
lại chút chút về bài viết này của anh Hoà. Nhắn Chu Văn Sơn Văn Giá Ngô Trần Đình Sử Nguyen Thi Thanh Xuan Bình Nguyên Tien Dang Phan Văn Thắng Nguyễn Duy Bình đọc cho vui, cho rôm chuyện. Xin cảm ơn cả anh Ân và anh Hoà.
Nguyen Thi Thanh Xuan: Cám ơn anh Mậu Nguyễn Đức
đã cho đọc. Nếu tôi không nhầm, bài viết này nằm trong mạch nghiên cứu
của anh La Khắc Hòa: soát xét lại các hiện tượng văn học đã qua, với
những cách tiếp cận khác nhau. Bài viết có hai lớp: lớp hiển lộ: cụ thể,
khách quan, để sự kiện lên tiếng, lớp ẩn ngầm: bàng bạc một cái nhìn
giễu nhại vốn có của tác giả. Bài viết tập trung vào text, dư luận gắn
với context, tình hình của mình hiện nay vẫn là như vậy.
Lại Nguyên Ân:
“Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa (Tố Hữu là “lá cờ đầu”) là văn học
“tán dương” (“Ca thi”), vì “tán dương” nên rất “réo rắt”.” – lập luận
như thế thì sẽ là không sai – dưới mắt các quan chức tư tưởng hiện giờ,
thậm chí họ xem đây là sự đề cao di sản văn thơ hiện thực xã hội chủ
nghĩa nói chung, và họ cấp “quota”, cho dự án, trao phần thưởng là đúng
rồi. Tức là họ coi nhà nghiên cứu là một dư luận viên cao cấp, thế thôi.
Nhưng rất may là phần lớn độc giả bây giờ, nhất là độc giả trẻ, không
ưa thơ Tố Hữu, và do vậy, những khảo sát kiểu này không có mấy hiệu lực.
Tien Dang: Nên để cho giới nghien cứu tự do chọn đề tài, bên ngoài thành kiến chính trị, bên ngoài sở thích của độc giả.
Mậu Nguyễn Đức:
Văn học bi giờ không được/ bị quan tâm kiểu như ba, bốn chục năm trước,
đấy là điều hay. Tố Hữu không được thích nữa cũng nhiều lí do, trước
hết là do thơ ông. Nhiều cái cũ nhắc lại không ai để ý gì đâu, mấy người
cũ đọc nhau rồi khen, chê, đánh giá thôi. Nhiều cái vương vấn trong đầu
thế hệ 60, 70 nay không mấy ý nghĩa. Người đọc chiếm ưu thế trong thời
đại mới bao giờ cũng thuộc thế hệ trẻ. Xem ai còn nhắc lại cái ngày xưa
lải nhải: con người mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng gì thì gì, cái gì muốn
viết, muốn nói thì cứ nên được nói, được viết. Phiếm luận chút cho vui
chuyện vậy
Khac Hoa La Cảm ơn bà Nguyen Thi Thanh Xuan.
Có quan tòa như bà, tòa án đỡ án oan, nhà tù đỡ chật chỗ. Tính tôi dát,
tôi sợ mấy ông vác dao búa chém túa lua lắm. Cảm ơn anh Tien Dang
đã “cởi trói” cho người nghiên cứu. Đúng là ở các nước xã hội chủ nghĩa
cũ không mấy ai còn quan tâm nghiên cứu văn học hiện thực xã hội chủ
nghĩa. Cho nên, những chuyên gia hàng đầu về văn học hiện thực xã hội
chủ nghĩa (chủ yếu về văn học Xô Viết) mới chạy qua Úc và Liên bang Đức.
Mình kính trọng hai vị sau đây: Katerina Clark ( Melbourne, Úc) và Hans
Günther (Đức). Ai muốn đọc bài của Katerina Clark “Vai trò đặc biệt của
Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa trong văn hoá Xô-viết”, xin vào
đây: https://lythuyetvanhoc.wordpress.com/…/t%C6%B0-li%E1…/
Trương Hồng Quang:
Tố Hữu từng là điển phạm thẩm mỹ của cả một thời đại, tôi không muốn
nói đến những thứ như “giết giết giết” tất nhiên cũng có trong thơ của
ông, tôi muốn nói đến những hình ảnh, trường liên tưởng, âm giai (ví dụ ở
một câu như “em ơi – mùa tuyết tan – đường bạch dương – sương trắng –
nắng tràn…”) thật sự đã trở thành một thứ vô thức tập thể của rất nhiều
người sinh ra trước thế hệ X ở miền Bắc. Tôi thấy hướng nghiên cứu của
anh Khac Hoa La, trước đó là của GS Trần Đình Sử,
rất quan trọng và thú vị – đấy không phải là phê bình quan phương, mà
theo tôi là những nỗ lực khách quan hoá từ giác độ lịch sử văn học. Xin
được nói thêm một ý ngoài lề: Vừa rồi tôi có đọc bài “Viếng bạn” (II)
của anh Chu Văn Sơn
viết lại trên nền bài thơ gốc của Hoàng Lộc từ năm 1948. Bản của anh
Sơn hay và xúc động đã đành, nhưng cảm hứng chủ đạo của nó cũng đã có từ
chính bản gốc của Hoàng Lộc. Mà cảm hứng của Hoàng Lộc lại cũng chính
là một phần của cảm hứng thời đại đã được thể hiện tập trung nhất trong
thơ Tố Hữu, ít nhất là ở những phần thơ và “vô tội” nhất của nó. Còn
việc rồi cuộc “cách mạng (sẽ) ăn thịt những đứa con của chính mình” hay
“giấc mộng của lý trí sản sinh ra những con quái vật” – đó đã là một
chủ đề khác…
Mậu Nguyễn Đức:
Nhớ lại quãng 1986, trong hội thảo về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, thì
Phan Cự Đệ có nói rằng Nguyễn Minh Châu đi chệch khỏi phương pháp sáng
tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Phê phán này làm Nguyễn Minh Châu buồn
(cái buồn này cũng là một tư liệu) và cũng là một kiểu bị đánh (chữ này
lâu nay ít dùng hơn ngày ấy). Bây giờ nếu nhắc lại hiện thực xã ội chủ
nghĩa cảm thấy như là huý kị ấy. Thế mới biết xây dựng xã hội dân chủ,
tôn trong các loại ý kiến, các cách thể hiện rất không dễ.
Trương Hồng Quang: Bác Mậu ơi: “Cái hoàn toàn mới chẳng có gì hấp dẫn”.
Đọc tiếp ở đây nhé: https://drtruong.wordpress.com/…/peter-von-matt-chung…/
Nguyen Thi Thanh Xuan:
Chỉ mới được gặp/ nghe các bác, các chú làm văn học ở Hà Nội hai lần
thôi mà bé Châu nhà XP nói là bác LKH là tự tại (và hậu hiện đại – NTTX
đế vào) nhất. Hình như mọi cái nghiêm trang không vừa với Bác… Anh Lại Nguyên Ân nói rất chân thành và tâm huyết trong cái nghiêm trang, to tát…
Trương Hồng Quang: Nhân bác Mậu Nguyễn Đức
nhắc đến câu chuyên về “phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ
nghĩa“ xin được kể lại ở đây một ý mà tôi vừa mới biết từ một bài giảng
về triết học sau 1945. Welsch, vị giáo sư giảng bài này, cho biết là chủ
nghĩa trừu tượng trong nghệ thuật phương Tây sở dĩ được đề cao như vậy
vì một phần đây cũng là một đối trọng tư tưởng hệ đối với chủ nghĩa hiện
thực xã hội chủ nghĩa ở phía Đông. Tuy nhiên vào những năm 60 đã xuất
hiện một trào lưu văn hoá – nghệ thuật mới – Pop Art. Trào lưu mới này,
với rất nhiều yếu tố của chủ nghĩa hiện thực, làm đảo lộn cả tín điều
chủ nghĩa trừu tượng và cũng làm thay đổi cả cái mà Welsch gọi là design
của triết học đương thời…
Lại Nguyên Ân:
Trong hiện tại, đối với các thứ di sản, có thứ di sản nên được đưa lại,
nhắc nhở đến, vì nó có giá trị nhân bản và tác dụng tích cực; lại có
thứ di sản nên tạm quên đi, vì nếu khơi ra thì tác dụng tốt sẽ ít mà bị
lợi dụng hơi nhiều. Di sản văn thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa, ở Việt
Nam hiện tại, tuy bị thế hệ trẻ chán ghét, nhưng còn được giới tuyên
truyền chính thống đem quyền lực ra bảo vệ, và rất muốn làm lộn sòng giá
trị với các nguồn di sản nhân bản khác. Bởi vậy, người nghiên cứu nên
suy tính lựa chọn. Theo tôi, cách hay nhất là tạm quên cái di sản văn
chương hiện thực xã hội chủ nghĩa ấy đi, nhất là những sản phẩm tiêu
biểu kiểu Tố Hữu. Khi nào người ta có thể nghe những thuyết minh này
(như trong nghiên cứu của PGS-TS La Khắc Hòa) trong cảm quan chế diễu,
thì hãy đưa những nghiên cứu này ra. Còn bây giờ việc đưa ra ắt bị phía
chính thống lợi dụng để tuyên truyền thôi.
Khac Hoa La: Thưa anh Lại Nguyên Ân,
từ những năm 50 của thế kỉ trước, tôi đã được dạy bài: chỉ nói “sự thật
nào có lợi cho ta”. Anh yên tâm, đến nay tôi vẫn còn thuộc bài học ấy
mà. Nhưng tôi cứ nghĩ, bây giờ mà còn dạy bài học ấy là ai khác kia…
Lại Nguyên Ân: Khac Hoa La
Vấn đề là những gì ta làm có thể bị đám quyền uy lợi dụng để kéo dài sự
hợp thức của nó hay không. Nếu nghĩ rằng làm thế vẫn không phải là bị
lợi dụng mà ngược lại là vẫn lợi dụng được nó, mặc kệ nó có lợi dụng
được mình hay không thì xin tùy nghi. Không phải vấn đề “sự thật có lợi
cho ai” đâu? Vả lại, chỉ kẻ hãnh tiến lắm mới dám coi các nhận định của
mình là “sự thật”!
Trương Hồng Quang: Than ôi, hai nhà nghiên cứu mà tôi đều trân trọng và yêu quý là Khac Hoa La và Lại Nguyên Ân
mà vẫn không hiểu nhau thì làm sao có được một diễn ngôn của “lý tính
giao tiếp” (“kommunikative Vernunft”, xin phép được dùng một chữ không
hề thời thượng của Habermas)! Mà đó là điều mà chúng ta đang cần hơn bao
giờ hết, ít nhất là trên lãnh thổ của nền cộng hoà văn chương – học
thuật.
Khac Hoa La: Trương Hồng Quang Chu Văn Sơn Nguyen Thi Thanh Xuan Tran Ngoc Hieu Mậu Nguyễn Đức:
Muốn có “lí tính giao tiếp” thì phải vứt gươm đi chứ! Tôi không nhìn
thấy tương lai dưới bóng cờ do những người thích cầm gươm giương lên,
bất luận đó là ai!! Hãy để dành gươm giáo mà chống ngoại xâm, khi cần!
Vấn đề là ở chỗ: Hiện nay, Tố Hữu là một trong 7 tác giả đang được học ở
tất cả các cấp học, hàng ngày, hàng triệu học sinh từ tiểu học đến đại
học vẫn học Tố Hữu bằng những bài học xưa cũ. Thế thì liệu có “để dành”
cái “di sản” ấy được không? Nên “để dành” nó (mà chắc chắn là không
được), hay nên truyền cho học sinh và giáo viên một cách nhìn khác về
nó? Tôi tin, kẻ kia “đốt” cái này (như đã xảy ra), người này “để dành”
cái kia (như đang chủ trương), hai cách hành xử ấy, từ trong bản chất,
chỉ là một thôi.
Trương Hồng Quang: Tôi vừa đọc xong bài của anh Khac Hoa La
gửi – một bài viết với rất nhiều phát hiện tài hoa và đáng được đọc đi
đọc lại nhiều lần – cám ơn tác giả nhiều! Tạm thời xin được hỏi thêm anh
hai điều: (1) So sánh với dòng “hiện thực xã hội chủ nghĩa” trên thế
giới rất khó tìm được ở Tố Hữu những cái có thể quy về truyền thống mỹ
học của “chủ nghĩa hiện thực” (đã được G. Lucács tóm tắt vào mệnh đề
“phản ánh đời sống bằng những hình thức của chính bản thân đời sống”);
thi pháp của Tố Hữu với các lớp “ngôn ngữ nhà binh”, “ngôn ngữ dòng
tộc”, “ngôn ngữ hội hè” và các mô thức tu từ “Thệ-Hịch-Ca thi-Đại cáo” –
như anh đã phân tích rất thuyết phục – rõ ràng là khác xa với cái mà
chúng ta vẫn hình dung dưới khái niệm “chủ nghĩa hiện thực”, cho dù là
trong phạm vi của “chủ nghĩa hiện thực XHCN”. Vậy áp dụng khái niệm này
vào Tố Hữu có hợp lý không? (2) Trong phần kết luận tác giả có nói đến
ảnh hưởng của chiến lược diễn ngôn/ngôn ngữ thế giới quan/mô thức tu từ
của Tố Hữu đối với toàn bộ nền văn học “hiện thực xã hội chủ nghĩa”.
Điều mà Q. rất muốn được biết thêm là quan hệ giữa Tố Hữu và các tác
giả phi chính thống cùng thời với ông (như Văn Cao, Trần Dần, Đặng Đình
Hưng, v.v.). Các khía cạnh chính trị thì về căn bản đã rõ rồi, câu
chuyện thú vị nhất ở đây có lẽ là cái tạm gọi là “tương quan lực lượng
thẩm mỹ” giữa Tố Hữu, dòng chủ lưu do ông đại diện và các tác giả tiền
phong như đã nói ở trên. Như đã nói, nếu gạt các yếu tố chính trị sang
một bên và chỉ nhìn nhận bằng con mắt của nhà nghiên cứu lịch sử văn
học, cái gì đã tạo nên những giá trị điển phạm của văn học dân tộc (ít
nhất là trong phạm vi miền Bắc) trong thời kỳ này? Và xung lực thẩm mỹ
quan trọng nhất đang chi phối sáng tạo văn chương hiện nay là gì – còn
bao nhiêu phần “Tố Hữu” trong đó, bao nhiêu phần của Trần Dần, Đặng Đình
Hưng, v.v.?
Khac Hoa La: Rất biết ơn Trương Hồng Quang,
vì đã đọc bài của mình một cách khách quan, bằng mắt xanh của người tri
âm. Ý tưởng bài viết của mình đã được hình thành từ mươi năm trước,
nhưng chỉ mới một năm nay, mình mới nghĩ xong hệ lập luận. Nói ngắn gọn
thế này:
(1) Thơ Tố Hữu tất nhiên không có họ hàng gì với “chủ nghĩa
hiện thực” theo lí thuyết của G. Lucács, vì bản thân “chủ nghĩa hiện
thực” là một “đốt” phát triển tiếp theo của chủ nghĩa lãng mạn, cả hai
thuộc phạm trù hiện đại. Nó là văn học của cá tính sáng tạo. Nó tạo ra
hệ thống thi pháp tác giả. Trong khi đó, trên phạm vi toàn thế giới, văn
học hiện thực xã hội chủ nghĩa ngay từ đầu đã là văn học của nội dung
có sẵn (giống như Homer viết Iliad), nó quay ngược về với loại hình nghệ
thuật từ chương (kiểu nghệ thuật trung đại), thi pháp của nó chỉ còn là
thi pháp của cái điển phạm, truyền thống, thi pháp của những thể loại
cách luật. (2) Có chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong lí thuyết
của đám lí thuyết gia toàn trị, giáo điều, cơ hội đủ loại và có hiện
thực xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn sáng tác. Như đã nói, trong thực
tiễn sáng tác, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là bước quay ngược
ngoạn mục về phạm trù trung đại (hồi ông Sử ra cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu,
là người đầu tiên viết bài phê bình (năm 1989), mình nhận xét: Từ ấy
của ông ấy là hiện đại, Việt Bắc là ca dao, Gió lộng, Ra trận thuộc phạm
trù nói chí trung đại). Cho nên, khi phân tích thơ Tố Hữu, mình cố gắng
nắm bắt hệ thống thể loại gốc chi phối diễn ngôn của ông ấy, biến diễn
ngôn của ông ấy thành một mô hình thế giới, một mô hình quan hệ trong
giao tiếp và thành một tiếng nói quyền lực. Nhưng vẫn có thể áp dụng
thuật ngữ hiện thực xã hội chủ nghĩa vào sáng tác của ông ấy, hiểu theo
nghĩa, nó chỉ nói về cách mạng và lãnh tụ của cách mạng, nó tuyệt đối
trung thành với ý thức hệ vô sản và hệ tư tưởng quốc gia thời chiến.
Thời kì Tố Hữu làm lãnh tụ văn nghệ, cánh Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình
Hưng bị đẩy ra ngoại biên, trải chiếu vui chơi ngoài ngoại biên, họ đẩy
nghệ thuật theo hướng hiện đại chủ nghĩa. (3) Bản thân Tố Hữu từ “Một
tiếng đờn” đã giải quy phạm, hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng
sáng tác của ông ấy trở thành kí ức lịch sử. Mình đã có một vài bài viết
về văn học Việt Nam sau 1986. Cũng chỉ mới kịp đưa ra vài nhận xét.
Chẳng hạn, sau 1986, về thể loại, văn học Việt Nam chuyển từ truyền
thuyết qua dụ ngôn (kiểu Nguyễn Xuân Khánh, Ma Văn Kháng) và giai thoại
(kiểu Nguyễn Huy Thiệp). Do chuyển thể loại diễn ngôn, nên mặt nạ ngôn
ngữ của các chủ thể diễn ngôn cũng thay đổi. Trước là người chiến thắng,
kẻ sở đắc chân lí. Nay là người ảo giác, chấn thương, bất khả tín… Đại
để là hiện nay, văn nghệ Việt Nam cũng có nhiều thay đổi, nhưng vài dòng
thế này, khó nói quá.
Trần Đình Sử:
Thơ Tố Hữu trước sau chỉ là thơ tuyên truyền chính trị, ca ngợi Đảng,
lãnh tụ cổ vũ nhân dân hi sinh cho cách mạng, giáo dục các đạo đức
truyền thống như lòng biết ơn đảng, lãnh tụ, ca ngợi các tấm gương hi
sinh cho cách mạng… Nó cũng nói được một chút niềm vui giải phóng theo
lí tưởng của đảng, chút tự hào dân tộc theo quan điểm của đảng. Để tuyên
truyền, nó sử dụng hầu hết phương tiện tu từ của văn học truyền thống.
Cả cuộc đời sáng tác thi ca, Tố Hữu không hề quan tâm sáng tạo hình thức
mới, và cũng cũng không cần sáng tạo mới, vì hình thức mới sẽ ảnh hưởng
không tốt đến hiệu quả tuyên truyền… Hướng khai thác của La Khắc Hòa là
đúng về lí thuyết, cho thấy thực chất của một giai đoạn văn học. Văn
học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sáng tạo theo tu từ học cổ
điển.
Lại Nguyên Ân:
Nếu thơ Tố Hữu là “điển phạm thẩm mỹ của cả một thời đại” thì tính điển
phạm này ở thơ Tố Hữu liên quan nhiều đến những thơ của Sóng Hồng, Lê
Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, tức những quan chức cộng sản làm thơ theo những
phương tiện tu từ của thơ văn trung đại. Còn trong tương quan với những
tác giả chuyên nghiệp đương thời như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận,
Tế Hanh, thì sự gần gũi chỉ là bề ngoài, những tác giả ấy có thể phát
ngôn xem Tố Hữu như đàn anh, đó là sự lấy lòng ngoài mặt, nhưng sáng tác
của họ dù trong thời toàn trị vẫn ngả về văn chương hiện đại. Bởi vậy,
vị tất nhận xét kể trên đã chuẩn xác.
Chu Văn Sơn:
Nếu tách văn học thời đại ấy theo dòng chính và dòng ngầm để xem xét,
thì có thể chia sẻ với La Khắc Hòa, Trần Đình Sử và Trương Hồng Quang.
Kể từ khi lên ngôi như lá cờ đầu của thơ ca cách mạng và nắm tuyên huấn,
thì Tố Hữu trùm lên cả nền văn học ấy bằng cả quyền uy và thơ ca. Tố
Hữu đã quyền uy hoá thơ tuyên truyền (xét một mặt nào đó, các mô thức
lời như thệ, hịch, cáo… nhan nhản trong thơ Tố Hữu cũng là để gia tăng
cho thứ quyền uy này). Cho nên các đại gia như Xuân Diệu, Chế Lan Viên,
Huy Cận, Tế Hanh … uy danh là thế cũng bị lấn át và “bị cuốn theo lối
chơi” của Tố Hữu. Các vị ấy cũng phải dẹp bớt y bát của riêng mình để
noi theo Tố Hữu vì không muốn bị bật ra khỏi chính thống. Nếu có khác
biệt, thì chỉ là văn học/thơ ca dòng ngầm (ví dụ sáng tác hậu Nhân Văn
Giai Phẩm). Cho nên, nói thơ Tố Hữu là “điển phạm thẩm mỹ của cả một
thời đại” cũng không đến nỗi quá lời đâu.
Khac Hoa La:
Thời ấy, Tố Hữu đã “thệ”, thì đại gia nào dám không “thệ”. Chế Lan Viên
thề sống thề chết cả bằng thơ, lẫn văn xuôi. Xuân Diệu thề “cùng xương
cùng thịt”… Nguyễn Đình Thi thề “làm hạt bụi”. Hết “Thệ”, các vị, từ
Xuân Diệu, Huy Cận, đến Tế Hanh chỉ dám viết “Ca thi”. Riêng Chế Lan
Viên thỉnh thoảng bắt chước Tố Hữu viết “Hịch” (“Những bài thơ đánh
giặc”). Không một ai dám viết “Đại cáo”. Có chăng, trong văn xuôi, với
“Vỡ bờ” và “Cửa biển”, Nguyễn Đình Thi (cũng là một ông quan) và Nguyên
Hồng viết “Đại cáo”. Từ giới lí luận phê bình đến giới sáng tác nhất
nhất tôn vinh Tố Hữu làm “đại ca”, “lá cờ đầu”. Ông ấy chính là điển
phạm tác giả, sáng tác của ông ấy là điển phạm tác phẩm, nội dung và
hình thức thơ ông ấy là điển phạm tu từ, viết khác đi, nhẹ thì không
được in, nặng thì thân tàn ma dại. Thế là điển phạm chứ gì nữa!
Trương Hồng Quang:
Hoàn toàn d’accord với anh Lại Nguyên Ân nếu xếp chung Tố Hữu vào cùng
một dòng với Sóng Hồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, v.v., nhưng chỉ là
từ giác độ chính trị. Còn xét trên phương diện thẩm mỹ Tố Hữu rõ ràng
là một đẳng cấp khác hẳn. Trên cơ sở bài phân tích của anh Lã Khắc Hoà
càng thấy rõ Tố Hữu chính là lực tổ chức thẩm mỹ trung tâm của cả một
thời đại, trong đó những chính khách làm thơ như mấy vị kể trên chỉ là
những kẻ mô phỏng thuần tuý (Epigonen/Imitator), tuyệt đối không có vị
thế nghệ thuật. Thú vị hơn là sự so sánh giữa Tố Hữu và những “tác giả
chuyên nghiệp” như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, v.v. Tại sao những
tác giả này – vốn là những chủ soái của Thơ Mới, một phong trào nghệ
thuật cách tân trước đó – đến lượt họ cũng bị chi phối bởi từ trường
thẩm mỹ của Tố Hữu? Có phải chỉ là vì những lý do quyền lực? Tôi nghĩ
không (chỉ) phải vì như vậy. Có một sự chuyển hệ hình nghệ thuật đã diễn
ra, với vai trò kiến trúc sư của Tố Hữu. Và di sản thơ mới, ngay ở
các cha đẻ của nó, đã bị đẩy sang vùng ngoại biên, cùng lắm chỉ còn làm
nên một số giọng điệu, sắc thái cá nhân nào đó, chứ không phải là cái
“điển phạm”. Nhưng thế nào là “điển phạm” và liệu Tố Hữu có phải là một
điển phạm, thậm chí là điển phạm của cả một thời đại? Giả thiết của tôi
là: Đương nhiên! Hegel có nói ở đâu đó: “Cái tồn tại là cái hợp lý”, tác
phẩm của Tố Hữu – dù thơ của ông ấy có hợp gu của chúng ta hay không –
theo tôi là sự thẩm mỹ hoá thành công và triệt để nhất của “cái tồn tại”
ấy…
Van Toan Tran: Bài viết của Khac Hoa La
đưa lại nhiều kết luận văn học sử quan trọng nhưng theo tôi còn quan
trọng hơn là nó gợi ra những thảo luận lí thuyết hết sức thú vị.
• Chuyên luận của GS Trần Đình Sử về thơ Tố Hữu là một công trình kinh điển từ góc độ thi pháp học. Bài viết của Khac Hoa La
lại đặt vấn đề nghiên cứu thơ Tố Hữu từ góc độ diễn ngôn / thể loại lời
nói với những công cụ mới: chiến lược giao tiếp, mối quan hệ giữa chủ
thể phát ngôn – người tiếp nhận và đối tượng. Và đây mới là đóng góp
chính của bài viết.
• Không nên nghĩ rằng việc thơ Tố Hữu ngày nay
không thu hút được nhiều độc giả (nhất là độc giả trẻ) thì có nghĩa là
nó đã bị vượt qua. Mỗi diễn ngôn/ thể loại lời nói chỉ xuất hiện trong
một tình thế nhất định. Tình thế diễn ngôn của thơ Tố Hữu là tình thế
của chiến tranh. Khi tình thế đó qua đi, sẽ có những thể loại/ diễn ngôn
mới xuất hiện. Nhưng nếu tình thế chiến tranh trở lại, chắc chắn thể
loại lời nói mà Tố Hữu sử dụng cũng sẽ trở lại. Trong kho lưu trữ
(archive) của các thể loại lời nói luôn có sự xáo trộn, sắp xếp trật tự
của các thể loại lời nói hay nói theo Foucault là trật tự của những diễn
ngôn. Điều này đặt ra vấn đề: lịch sử văn học là sáng tạo hay là sự trở
về hay là sưj kết hợp của những thể loại lời nói trong những tình thế
nhất định?
• Vấn đề khác: Ai là người lựa chọn thể loại lời
nói đó, và những yếu tố nào đã khiến thơ Tố Hữu ngay khi xuất hiện đã
lập tức trở thành điển phạm? Hay là có một cơ chế nào đó khiến thể loại
lời nói này được lựa chọn nằm ngoài mọi ý tưởng một cá nhân? Tôi có trực
giác rằng: nếu khảo vào những văn bản ngoại giao, văn bản chính luận,
xã luận, những văn bản do các nhà chính trị thời này đứng tên thì chúng
ta cũng thấy xuất hiện ở đó chiến lược giao tiếp trong thơ Tố Hữu mà Khac Hoa La đã miêu tả.
• Nếu điều đó là đúng thì lại nảy sinh vấn đề:
Cái chiến lược giao tiếp chung cho tất cả các kiểu dạng thể loại lời nói
đó là gì? Mối quan hệ giữa các thể loại lời nói hư cấu.
Lại Nguyên Ân:
Tôi thấy ý anh Trần Đình Sử về thơ Tố Hữu trong stt trên đây là đáng
tán thành hơn so với những luận bàn về thơ Tố Hữu anh nêu trong chuyên
luận “Thi pháp thơ Tố Hữu” (1987). Một vài bạn tham gia “bàn tròn” nhỏ
này dường như vẫn ngợp trong cảm tưởng rằng thơ Tố Hữu đã từng là “đỉnh
cao thời đại” thì nó sẽ cứ là thế mãi mãi! Không đâu! Vẫn còn một điều
kiện nữa. Ấy là với độ lùi thời gian, người ta sẽ thấy lộ ra những diện
mạo đích thực của cái xã hội, cái chế độ chính trị đã được thơ Tố Hữu
dùng tụng ca hoặc hịch để xưng tụng. Tôi biết, chỉ đến khi chế độ toàn
trị đã ở sau lưng, người ta mới có thể cảm nhận đầy đủ ý nghĩa những
nghiên cứu khái quát như của La Khắc Hòa. Còn bây giờ, chúng ta vẫn rên
siết dưới ách toàn trị, cho nên vài bạn tại đây vẫn đọc sai anh Sử, anh
Hòa đó.
Lại Nguyên Ân:
Nhân nói về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ 1934 (khi nó được
đề xuất ở Liên Xô) đến 1990, trong phe xã hội chủ nghĩa vẫn có nhiều
tranh luận về nó. Ở các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa dường như nó ít bị
bài bác, là vì nơi đó khá gần Nga về văn hóa. Nhưng ở Cuba thì văn nghệ
không mấy khi nói đến nó, vì nhà văn ở đấy đã có “chủ nghĩa hiện thực
huyền diệu” Mỹ Latin! Ở Tàu thì Mao bảo văn nghệ có thể hoặc viết theo
“hiện thực cách mạng”, hoặc viết theo “lãng mạn cách mạng”. Ở Liên Xô
người ta chỉ chống “hiện thực vô bờ bến” kiểu Garaudy, bảo nó “xét lại”
thôi. Nhưng nhìn vào quy mô quốc tế, thì người ta cho hiện thực xã hội
chủ nghĩa là đối kháng với Modernism, tức là đối đầu hai phe trong thời
chiến tranh lạnh. Ở Việt Nam, nhà văn (trong Hội Nhà văn Việt Nam) khi
nói ở các diễn đàn chính thức thì tán dương hiện thực xã hội chủ nghĩa,
còn khi ngồi với nhau thì rất hay bài bác nó; những nhà văn có chút vốn
“tiền chiến” thì hay chê văn chương Nga Xô, và tự nhận là có nhiều chất
văn chương Pháp! Cho đến sau 1991, phe xã hội chủ nghĩa sụp thì hiện
thực xã hội chủ nghĩa cũng mất quy chế “pháp định” (ngầm) về sáng tác.
Từ điểm sau 1991 nhìn lại thì rõ ra: hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ là
vấn đề ý thức hệ, là quy chế ý thức hệ cho văn chương nghệ thuật; do vậy
không lạ gì khi nêu yêu cầu hiện thực xã hội chủ nghĩa cho văn nghệ sĩ
thì người ta nói trước tiên đến “tính đảng” của tác phẩm (và cả tính
đảng của nhà văn nữa!). Tất nhiên ngoài chuẩn về ý thức hệ cũng có một
vài chuẩn khác nữa, liên quan đến phương diện hình thức nghệ thuật, ví
dụ ưu tiên chọn đề tài công nông binh, sáng tác theo các chủ đề tuyên
truyền chính trị, ưu tiên miêu tả “giống như thực” (hơn là mơ tưởng,
huyền hoặc…).
Khac Hoa La: Anh Lại Nguyên Ân
thử tham khảo ý kiến của Hoàng Dzũng về bài Tố Hữu: “Cách tiếp xúc văn
bản của nhiều người “tiến bộ” hiện nay là thiên tập trung vào tác phẩm
của những tác giả bị vùi dập một thời, và tránh xa những tác giả một
thời được suy tôn. Cách làm đó có thể thông cảm nhưng về dài hạn là có
hại cho học thuật và ngay cả cho việc đổi mới”. Anh lưu ý, các nước
phương Tây bao giờ cũng tìm cách giải cấu trúc với những cấu trúc già
cỗi, truy vấn nó để chia tay với nó một cách thanh thản, chứ có ai lờ nó
đi đâu.
Nam Sơn:
Đàn bà trong nhà xin bàn góp với các đức ông một câu: Anh Lại Nguyên Ân
khuyên chúng ta cùng im lặng, đừng nói gì về thơ Tố Hữu nữa, để mặc cho
cái di sản ấy và những người sùng bái nó “chết cái chết tự nhiên”. Tôi
nghĩ đó là một thái độ lảng tránh đầy ảo tưởng, nếu không nói là sự ngây
thơ. Có hai lí do khiến di sản thơ Tố Hữu chẳng bao giờ chết được. Thứ
nhất: Thơ ông ấy đã trở thành điển phạm (tác gia điển phạm, tác phẩm
điển phạm) của cả một thời đại. Nên nhớ, gần nửa thế kỉ, thơ Tố Hữu có
mặt trong hầu hết các cuộc thi của học trò. Ông Đặng Thai Mai, trên, chỉ
bình thơ Cụ Hồ, dưới, chỉ khen thơ ông Tố Hữu. Ông Hoài Thanh có mở
rộng hơn một chút, với ông ấy, trên là thơ văn Cụ Hồ, Tố Hữu, dưới có
đám nhà thơ trẻ. Đặng Thai Mai và Hoài Thanh thì đúng là sùng bái Tố Hữu
rồi! Nhưng thế hệ chúng tôi ru con bằng thơ Tố Hữu, mà nào có sùng bái
gì đâu! Thơ ông ấy có sức mạnh động viên thật, mà cũng réo rắt ngọt ngào
thật! Làm sao một thời đại và cái điển mẫu của một thời đại có thể chết
được? Nó chỉ hóa thành lịch sử thôi! Thứ hai: Thơ Tố Hữu sống hay chết
phụ thuộc vào người đọc, chứ không phụ thuộc vào bản thân nó. Có khối
người muốn chết, mà đời sau có cho chết đâu! Cho nên tôi tin, mỗi khi
người đọc có nhu cầu đối thoại với thời đại mình về những khía cạnh có
liên quan tới thời đại mà thơ Tố Hữu trở thành điển mẫu, liên quan tới
thời đại xem thơ ông ấy là điển mẫu, lập tức họ lại sẽ làm cho thơ Tố
Hữu sống dậy thôi!
Mậu Nguyễn Đức:
Năm nảo năm nào đó Nguyễn Sĩ Đại đọc cho nghe hai câu thơ của một người
nào quên tên: “Thơ hay không dễ chết/ Thơ dở chết là may”. Thơ dở muốn
chết cũng không cho chết, họ đọc lên để trưng bày tội, luận tội.
Từ Facebook “Mậu Nguyễn Đức”, “stt” 23/3/2015 (https://www.facebook.com/profile.php?id=1300875980&fref=ts)
[*] Xem: http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/tho-to-huu-kho-k-uc-the-loai-cua-van-hoc-hien-thuc-x-hoi-chu-nghia-2/; http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/tho-to-huu-kho-k-uc-the-loai-cua-van-hoc-hien-thuc-x-hoi-chu-nghia/
[**] Xin đọc ở đây: 1) http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/ca-thi-va-dai-cao-trong-tho-to-huu. 2) http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/tho-to-huu-kho-ky-uc-the-loai-cua-van-hoc-hien-thuc-xa-hoi-chu-nghia.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét