Còn ai tin vào nhà văn Việt Nam nữa không?

Inrasara*







Đại đa số nhà văn Việt Nam hôm nay từ chối làm nhà
trí thức theo nghĩa mạnh nhất của từ này. Thì lấy đâu tác phẩm của hắn
nhận được sự chú ý xứng đáng từ cộng đồng, nói chi chuyện cá nhân hắn
được cộng đồng tôn trọng. Còn kêu ca than vãn công chúng lạnh nhạt với
văn học thì không gì tệ hại hơn.


1. Xã hội nào bất kì, muốn tự thức để tiến bộ,
cũng cần đến sự phản biện. Một phản biện đích thực: trực diện, mạnh mẽ,
và đầy trí tuệ. Không phải lối phản biện “dân hỏi Bộ trưởng trả lời”,
hay như ở Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học, Nghệ thuật Trung ương, các
diễn giả lên giảng bài, sau đó đưa địa chỉ email: “Ai có thắc mắc gì cứ
gửi điện thư cho tôi”. Mà là trực diện.
Xã hội Việt Nam hôm nay nảy
sinh nhiều vấn đề nóng cần đến sự phản biện. Đâu đó đã có những phản
biện, tội – ở đó nhà văn, nhất là cánh nhà văn thuộc Hội Nhà văn Việt
Nam, ít dự cuộc hơn cả. Trong khi nhà văn là kẻ phản biện xã hội.


Không
phải các “nhà” khác không phản biện xã hội, nhưng chính nhà văn là
người phản biện xã hội toàn diện nhất, và nhất là – cần thiết cho sự
khai mở tư duy sáng tạo của hắn nhất. Bác sĩ, kĩ sư, chuyên gia, giáo sư
đại học… cũng phản biện, nhưng thường họ tập trung vào chuyên môn; cho
nên nếu có phản biện thì họ phản biện về lĩnh vực chuyên môn của họ là
chính. Còn nhà văn, bạn phải quán xuyến mọi vấn đề xã hội để có thể
viết… văn. Qua đó, bạn hiểu xã hội để phản biện.
Một số nhà văn viết
truyện phục vụ bộ phận độc giả nhất định: độc giả thiếu nhi, tuổi mới
lớn hay các cô tiểu thư thị thành; hoặc cũng có không ít nhà văn quyết
đóng phòng văn hì hục viết mong làm ra tác phẩm để đời. Tiếp xúc với độc
giả – không; diễn thuyết trước công chúng – không; tham gia vào công
việc xã hội, từ đó phản biện xã hội cũng không nốt. Đó là chọn lựa của
họ, họ là nhà văn tháp ngà, chúng ta hãy để mặc họ với tham vọng riêng
tư ấy. Còn lại, nhà văn là kẻ phản biện xã hội. Công chúng đòi hỏi nhà
văn đóng vai trò một trí thức đúng nghĩa. Chỉ như thế hắn mới tạo ảnh
hưởng nhất định đến lối suy nghĩ của cộng đồng, lớn hơn – tác động đến
xã hội.
2. Nhà văn Việt Nam phản biện ai? Lạ, trên hết và trước hết,
cộng đồng người đọc hôm nay đòi hỏi hắn phải biết phản biện chính tổ
chức Hội Nhà văn Việt Nam, ở đó Ban Chấp hành là đối tượng đầu tiên cần
nhận sự phản biện. Bởi Hội mà hắn tham gia là một tổ chức chính trị nghề
nghiệp đang tiêu tiền của nhân dân, nên nó phải có trách nhiệm với nhân
dân.
Việc xét kết nạp hội viên chẳng hạn, là vấn đề bị dư luận ì xèo
nhất, chắc thế. Khía cạnh này, xin đề cập đến chuyên môn hẹp: Thơ. Việt
Nam là “nước thơ”. Người làm thơ nhiều, tập thơ in ra cũng nhiều, cho
nên ứng viên thơ luôn có con số vượt trội. Văn chương lại vô bằng, nên
việc đưa lên đặt xuống là rất mất thì giờ, và mất… lòng. Nhưng thế nào rồi cũng nhắm mắt, nén lòng để chọn cho được đủ số đề cử lên Ban Chấp hành.
Ban
Chấp hành là cấp quan cao nhất của Hội Nhà văn Việt Nam. Nếu bên Hội
đồng chỉ trách nhiệm về chuyên môn, thì ở đây là cấp trách nhiệm… lớn
hơn, toàn diện hơn. Thì hẳn! Ban Chấp hành nhiệm kì này gồm 15 vị, có
văn xuôi, có thơ, có cả lí luận phê bình, vân vân. Ở đây, lại xin nói về
thơ. Có ứng viên thơ đã qua cửa Hội đồng với số phiếu rất oách, tin
chắc thế nào kì này bỏ túi thẻ Hội Nhà văn. Ai dè, qua Ban Chấp hành bị
đánh trượt! Lí do? Ít người biết thi sĩ này quá. Nhưng họ đã vượt qua ải
chuyên môn rồi mà? Vậy là ủy viên Ban Chấp hành phải đọc. Có thì giờ
đọc duyệt hết không? Sức mấy! Đó là chưa xét đến khía cạnh: có đến hai
phần ba Ban Chấp hành không chuyên ngành thơ. Không dám nói anh chị
không hiểu về thơ, mà sẽ khó khăn hơn. Khó về chính ứng viên đó với tác
phẩm đó, càng khó hơn nữa trong đối sánh với các ứng viên khác, thi tập
khác. Kẹt là thế! Vậy, không tin Hội đồng chuyên môn do mình đề cử thì
còn tin ai? Vậy mà Ban Chấp hành đã nhiều bận nói không với Hội đồng
này!
Sự thiếu tin tưởng này còn đẩy lên cấp độ cao nhất ở xét giải
thưởng, khi năm 2014, tập thơ vào chung khảo ở Hội đồng thơ chỉ được hai
phiếu và bị loại nhưng nó được Ban Chấp hành xét tặng Giải thưởng thơ
duy nhất của năm, trong khi ba tập khác được 7-8/9 phiếu thì bị loại.
Mặc dù làm thế không sai quy chế của Hội Nhà văn, nhưng nó không thuyết
phục được công chúng độc giả. Càng khiến Hội đồng chuyên môn không phục.
Có nhà văn nào đã phản biện Ban Chấp hành về vụ kia không?
Trực tiếp
hơn, Festival Thơ châu Á – Thái Bình Dương đầu năm 2015 vừa qua, 153
đại biểu thơ “quốc tế” có đến phân nửa là nhà thơ cấp “câu lạc bộ” lên
diễn đàn “đánh vần” thơ tiếng Anh trình độ bằng B cho thính giả Việt Nam
nghe, cạnh đó thính giả phải nghe phiên dịch viên dịch thơ bằng lối
dịch cẩu thả đến vô trách nhiệm – mới tội. Festival Thơ tầm quốc tế ấy
ta đã thu hoạch được gì, ngoài sự rềnh rang mang tính hội hè? Trong khi
tiền của bỏ ra cho công cuộc đó không lấy đâu khác ngoài tiền thuế nhân
dân. Mà ít ỏi gì cho cam. Có nhà văn nào đã lên tiếng phản biện không,
ngoài tiếng nói lẻ loi trên Tiền phong Chủ nhật: “Không đương
đại, không người trẻ”, đăng ngày 8-3-2015
(http://www.tienphong.vn/van-nghe
/khong-duong-dai-khong-nguoi-tre-830375. tpo#Inrasara).



… Phải biết làm cuộc đoạn tuyệt với xã hội họ
sống, ở trong Hội mà như đứng ra ngoài Hội – để làm một nhà văn tự do.
Chỉ khi không còn manh mún vướng bận triền phược nào sót lại: sự ưu ái
và đãi ngộ từ cơ chế hiện hữu, sự dung dưỡng với nương tựa nhau để hai
bên – nhà văn và cơ chế – cùng có lợi, nhà văn mới có thể tự giải phóng
toàn triệt.



Chuyện đơn giản vậy thôi mà không dám, không biết
lên tiếng thì làm gì ta dũng cảm đứng mũi chịu sào phản biện khi tác
phẩm của đồng nghiệp bị cấm xuất bản, hay xuất bản – phát hành để bị thu
hồi, bị “đánh” hội đồng đầy bất công, oan uổng. Lớn hơn và nhạy cảm hơn
– về vấn đề Biển Đông, về môi trường bị phá hoại, về vấn nạn tham ô
đang lan tràn như một “bầy sâu” lúc nhúc. Vân vân…
Đại đa số nhà văn
Việt Nam hôm nay từ chối làm nhà trí thức theo nghĩa mạnh nhất của từ
này. Thì lấy đâu tác phẩm của hắn nhận được sự chú ý xứng đáng từ cộng
đồng, nói chi chuyện cá nhân hắn được cộng đồng tôn trọng. Còn kêu ca
than vãn công chúng lạnh nhạt với văn học thì không gì tệ hại hơn.
3.
Nhưng liệu nhà văn còn có thể tránh né hiện thực xã hội mãi không? Câu
trả lời là: không! Làm nhà văn có nghĩa là bị đẩy xuống tàu. Ngoại trừ
văn nghệ sĩ sa-lông, hay các cây bút đầu hàng thời cuộc, ngày hôm nay
mỗi hành vi công bố tác phẩm là một hành động đặt mình vào sự cuồng nộ
của một thời đại không tha thứ (Créer aujourd’hui, c’est créer
dangereusement. Toute publication est un acte et cet acte expose aux
passions d’un siècle qui ne pardonne rien, – Albert Camus, “L’Artiste et
son Temps”).
Hiện thực phổ quát, kèm với nó là sự thống khổ của đám
đông có mặt khắp nơi, ở sát cạnh nhà bạn, ngay giữa lòng tập thể nhỏ bé
tưởng yên ấm của bạn. Thống khổ và bất công lồ lộ được phương tiện thông
tin đủ loại đẩy vào tận phòng ăn, giường ngủ của bạn, ám ảnh giấc mơ
bạn. Đám đông ấy không để yên cho sự im lặng của bạn, khi im lặng đó bị
coi như một thái độ. Họ càng không tha thứ cho tiếng nói của bạn, nếu đó
chỉ là tiếng nói lưỡng lự, nửa vời.
Quần chúng đòi hỏi trách nhiệm
của nhà văn. Trách nhiệm đó đòi hỏi nhà văn – dù thuộc hội đoàn nào bất
kì, ở đây là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam – nói mạnh như Camus, là phải
biết làm cuộc đoạn tuyệt với xã hội họ sống (la responsabilité supposait une rupture épuisante avec leur société),
ở trong Hội mà như đứng ra ngoài Hội – để làm một nhà văn tự do. Chỉ
khi không còn manh mún vướng bận triền phược nào sót lại: sự ưu ái và
đãi ngộ từ cơ chế hiện hữu, sự dung dưỡng với nương tựa nhau để hai bên –
nhà văn và cơ chế – cùng có lợi, nhà văn mới có thể tự giải phóng toàn
triệt. Giải phóng cả truyền thống văn hóa văn chương từng chế ngự tâm
thức nhà văn, tâm thức tạo nên thứ tâm lí bầy đàn hãi sợ sự cô đơn, chạy
trốn tinh thần độc lập qua đó mài mòn cá tính sáng tạo. Chỉ dũng cảm
cắt đứt như thế thôi, nhà văn không bị áp lực bởi thế lực nào bất kì,
qua đó hắn mới có thể có tiếng nói khách quan và độc lập.
4. Đến đây,
muốn tiếng nói bạn được quần chúng lắng nghe, nhà văn đồng thời phải là
một nhà phê bình hoặc có khả tính phê bình. Tiếc, nhà văn Việt Nam hiếm
có khả tính phê bình, nói chi là nhà phê bình. Ta sáng tác bản năng và
cảm tính, và ta hãnh diện về nỗi thiếu lí tính ấy. Ta ưa nói: Vô chiêu
thắng hữu chiêu; nhưng chưa có ngón võ nào trong tay, thì làm gì nói đến
vô chiêu? Ta thích dẫn Goethe: Lí thuyết thì xám xịt, cây đời mới xanh
tươi; trong khi trong tay ta chẳng có mủng lí thuyết nào, còn cây đời
lại là thứ cây èo uột. Văn học Việt Nam muôn năm ở lại với nghiệp dư
không phải không có lí do chính đáng của nó.
Ta thiếu triết học, ta
không thèm chịu học triết học nữa, nghĩa là ta từ chối học suy tư độc
lập, để có thể phản biện. Triết học ta đang dạy và đang học trong nhà
trường là triết học “theo”: nghe theo, nói theo, suy tư theo; tôi gọi
đùa nó là thứ triết học Theo-ism. Không lạ, khi những người
viết văn, làm thơ đến mỗi “mùa hội viên” là lo chạy vào Hội Nhà văn Việt
Nam, vào được rồi thì xoa tay – nghỉ, chứ hiếm khi viết được gì thêm,
chẳng sáng tạo được gì mới; bầu Ban Chấp hành đại diện cho mình thì đầy
cảm tính với cảm tình lẫn bè phái. Quần chúng có than vãn thì kệ. Ta đổ
trách nhiệm cả lên đầu Ban Chấp hành, hay của cả khối tập thể, mà không
là trách nhiệm của một ai. Ta giành phần vô trách nhiệm trước xã hội.
Hỏi, còn ai tin vào tiếng nói của nhà văn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam nữa không?
————
* Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam






Share on Google Plus

About Unknown

Bài viết này được chia sẻ bởi Unknown.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét