Vài sinh hoạt trong thơ đấu tranh Châu Phi (1)





Ngu Yên









Sự thành công hay thất bại của một bài thơ đấu tranh có giá trị nằm trong diễn trình sinh hoạt của bài thơ. Diễn trình sinh hoạt
là mấu chốt của mọi bài thơ, mọi thể thơ, nhất là những loại thơ mang
tính thuyết phục. Cho dù là thơ Cụ Thể, thơ Hài Cú, thơ Siêu Thực, thơ
Hậu Hiện Đại… đều có diễn trình sinh hoạt, dĩ nhiên là lề lối sinh hoạt
khác nhau. Diễn trình sinh hoạt có thể tạm coi như là một sân khấu đang
diễn một vở tuồng. Gồm có nội dung (có truyện hoặc không có), nhân vật,
hành động, lời nói/chữ nghĩa, v.v. diễn tiến và cốt lõi.


Diễn trình sinh hoạt của thơ đấu tranh không thể thành công nếu
không đạt được sức thuyết phục. Sức thuyết phục trong thơ đấu tranh
không thể thành công nếu không đạt được lòng cảm động. Lòng cảm động
trong thơ đấu tranh không thể thành công nếu không đạt được sự thật và
chân thật. Sự chân thật trong thơ đấu tranh không thể thành công khi
không đạt được nghệ thuật hóa của thi ca. Cho dù là hư cấu, phải khiến
người đọc tin là chuyện thật. Bài thơ đấu tranh khó có thể có giá trị
nếu thiếu đi những yếu vận kể trên.




Khác với sân khấu, sinh hoạt thơ không cần “nặng” lý luận mà vẫn
“nặng” tư tưởng. Có thể nói: Lý luận là người bạn không tốt hoặc hơn
nữa, có thể là kẻ thù của thơ. Nói như vậy không có nghĩa là thơ không
cưu mang lý luận nhưng thơ có cách lý luận riêng không giống định nghĩa về lý luận.


Khi triết gia Platon định nghĩa người là con vật hai chân,
không có lông vũ, triết gia Diogenes đã nhổ hết lông một con gà trống,
mang lại trước trường dạy học của Platon, giơ lên mà nói:
Đây là con người của Platon”.
Luận lý của Platon là luận lý có điều kiện: “hai chân” và “lông vũ”.
Luận lý của Diogenes là luận lý cách sơn đả ngưu, dùng biểu tượng chứng
minh ý niệm, dùng cụ thể chứng minh trừu tượng. Bỏ qua luận lý triết
học, cách lý luận của Diogenes thường thấy trong thơ. Không phải ở khía
cạnh phản bác ý niệm con người của Platon mà chính là làm cho định nghĩa
của Platon thấm thía hơn, không phải rõ ràng hơn, cũng không phải đúng
hơn. Lý luận thơ là lý luận làm cho cảm nhận rung động, tâm tình sâu sắc
và trí tuệ loé sáng. Những lý luận theo khoa bảng, toán học hoặc lý
thuyết thường làm cho thơ thất bại hoặc giả tạo.


Khi đi sang nước Sở, Trang Tử thấy cái đầu lâu đã khô song vẫn còn nguyên vẹn. Ông nhấc nó lên rồi hỏi rằng:
phải ngươi tham sống quá mà còn nguyên như thế này? Hay ngươi ở đây vì
đất nước chiến tranh? Hay vì bị một rìu chặt đứt mà lăn ra đây? Có phải
ngươi làm điều xấu để hổ mặt cha mẹ vợ con? Hay ngươi chết vì đói rét?
Hay vì số ngươi đã tận?
”. Rồi Trang Tử mang đầu lâu về. Ăn ngủ để cạnh bên. Trong chiêm bao, đầu lâu hiện ra, trả lời: Ông chỉ nói những lời biện thuyết, nhắc đến những thống khổ giày vò của người sống. Những chuyện này không có trong cõi chết…”.
Đương nhiên Trang Tử không nói về cõi chết. Cái đầu lâu chỉ là cái cớ
nói ra cõi chết cho cõi sống giật mình và thâm thúy hơn. Bạo quyền trên
mặt đất này phát sinh từ sự “tham” sống. Chiến tranh, khổ đau, ly tán
phát xuất từ cách sử dụng uy quyền của lãnh tụ. Cái đầu lâu của dân hay
của lãnh tụ đều như nhau. Kẻ bạo quyền và kẻ bị bạo quyền đều giống nhau
sau cõi sống. Những điều Trang Tử nhắc lại là những điều bình thường
trong cõi người ta. Bình thường đến đỗi quen thuộc rồi xem như là lẽ
đương nhiên hoặc lẽ tự nhiên. Vì sao con người làm ngơ trước bạo quyền?
Vì họ đã quen thuộc với nó. Vì sao kẻ bị bạo quyền lại không phản kháng?
Vì họ xem đó là lẽ đương nhiên. Nếu nghèo sẽ bị giàu sai bảo. Nếu yếu
sẽ bị mạnh cai trị. Nếu là dân thì phải bị nhà cầm quyền lãnh đạo. Trang
Tử nhắc lại, đánh thức cái lý lẽ đương nhiên để bộc lộ một lý lẽ đương
nhiên khác: Quyền sống không bình đẳng của con người vì con người
sẽ bình đẳng trong cõi chết. Luận lý này bắt gặp thể hiện trong thơ đấu
tranh của Châu Phi. Đấu tranh nhân quyền thực chất không phải là đấu
tranh bình đẳng vì bình đẳng không bao giờ có trong cõi sống. Hãy nhìn
lại lịch sử, hãy tìm vào tôn giáo, hãy lục soát tận cùng tâm hồn, tận
cùng sự sống, có không? Quyền làm người không phải là quyền làm người
giống nhau. Nhân quyền được đấu tranh là quyền sống của sự không bình
đẳng. Nếu đã không bình đẳng mà không có quyền làm người thì còn là con
người hay sao?


Từ xương tủy này, quay về lại với diễn trình sinh hoạt. Đi gần
với nghệ thuật hơn, diễn trình sinh hoạt trong thơ không phải là vở
tuồng trên sân khấu. Là một xã hội giới hạn sinh động trong thời gian
của bài thơ. Có bắt đầu sự sống, có quá khứ là những câu thơ đã viết, có
hiện tại là chữ nghĩa hạ trần xuống giấy, có tương lai là những câu thơ
sắp ra đời và có kết thúc. Thi sĩ chẳng biết được tương lai ở đâu và
khi nào hết. Sinh hoạt bên trong thay đổi, biến hóa ra sao, chẳng ai rõ.
Nếu công nhận nghệ thuật là sáng tạo thì sáng tạo là không biết trước.
Diễn trình sinh hoạt trong thơ là sự sống là sáng tạo, cho dù có lắm
điều đã dự định.


Mỗi bài thơ có mỗi diễn trình sinh hoạt. Những diễn trình này nằm
trong dòng diễn trình sinh hoạt của sự nghiệp thi ca của mỗi thi sĩ.


1.


Nội dung của bài thơ căn bản nhất là biểu hiện tâm tình và
kinh nghiệm về một sự kiện, sự việc, muốn chia sẻ. Kinh nghiệm càng sâu
sắc, càng đậm đặc, ý thơ càng mạnh, tư tưởng thơ càng có sức thuyết
phục. Kinh nghiệm trăn trở này như Trang Tử ăn ngủ với đầu lâu bên cạnh,
năm này tháng nọ cho đến một chiêm bao, đầu lâu mới bật sống hiện về
đối thoại. Chính vì băn khoăn thao thức với kinh nghiệm nên khi bức xúc
thành thơ, tâm tình sẽ phản ứng với rung cảm mạnh. Rung động mạnh sẽ tự
nhiên đẩy ra những lời thơ đánh động tâm tình của người viết và sẽ gây
cảm xúc cho người đọc.


Phong trào Biểu Hiện (Expressionism) thường sử dụng kỹ thuật này.
Ý niệm và tư tưởng đương nhiên là có nhưng không quan trọng bằng lực cảm động
làm rung cảm tâm tư của cả hai, trước là sáng tác sau là thưởng ngoạn.
Áp lực của lực cảm động sẽ gây bùng nổ ra ý tứ và lời thơ từ đó tạo ra
một không khí đặc thù, một tâm trạng riêng tư cho bài thơ này.


Một thi sĩ có thể thao thức trăn trở nhiều kinh nghiệm khác nhau
trong đời sống nhưng sẽ có một kinh nghiệm trong đám kinh nghiệm kia
xuất hiện đúng lúc cho bài thơ thành lời. Thông thường thi sĩ hay đeo
đuổi một kinh nghiệm bức xúc nhất để suy tư rồi sẽ có một lúc thơ bật ra
không ngăn nổi. Điểm nhấn ở đây là không phải loại kinh nghiệm kể lể.
Loại kinh nghiệm kể lại mùi mẫn, ru hồn sẽ trở thành loại thơ lãng mạn,
có tính tê dại tâm tình của viết và đọc trong thời gian ngắn ngủi, thông
thường mang những lời thơ giả tạo, có tính biện minh, biện hộ hoặc du
thuyết, không cảm được sự chân thật trong tâm tình diễn tả. Kinh nghiệm
để biểu hiện chính là diễn tả ý nghĩa của kinh nghiệm, còn cảnh
tượng, hình hài của kinh nghiệm có hay không, không cần thiết. Dẫn bài
thơ của thi sĩ Nam Tư, Sipho Sepamla. Nội dung về sự sợ hãi. Sợ hãi
chính là nguồn gốc của hèn nhát tạo ra tinh thần bị trị. Muốn hết hèn
nhát thì phải hết sợ. Muốn có can đảm phải vượt lên sợ hãi. Dân tộc nào
có bản tính sợ, dân tộc đó hèn. Mặt dưới của hèn là quì gối, cúi đầu,
năn nỉ, xin xỏ, sá gì lương tâm, sá gì tự trọng. Mặt trên của hèn là
tham lam, hống hách, sá gì lương tâm, sá gì tự trọng. Người yêu quê
hương là người thao thức về những gì đang nội tại khiến cho dân tộc và
quê hương phải điêu linh. Nếu quê hương nằm trong một kết quả tang
thương thì không chỉ tại những nguyên nhân gần mà từ lâu, cái nguyên căn
là đâu?


Nói về sợ hãi






từ lâu


chúng ta chạy trốn lòng sợ hãi


nỗi sợ vô hình


chúng ta trăn trở ngày đêm


chỉ để thấy


sợ hãi đăm đăm nhìn thẳng vào mặt


những ngày đó


khi chúng ta đi trong hồi hộp ngu đần


sợ cả tiếng xào xạc trên cây


dù lá được ví như tai nghe ngóng


những ngày đó


sợ hãi quay chúng ta vòng vòng bằng ngón tay


thả ra khi muốn


bóp chặt không động lòng


về đêm


từng bước chân ngoài sân


giẫm lên linh hồn lạnh lẽo


mỗi tiếng gõ cửa


đóng đinh tinh thần


khi thời cơ bắt bớ lên cao độ


nói chuyện thì thầm là liên hệ tình nghi


chúng ta nghe nói về thẩm vấn tra tấn


chửi rủa thô tục


như đàn ngựa sút cương


chen nhau phóng chạy


nghe đôi môi bị bạo quyền hành hung


tiếng gào thét vì sắt nung tra khảo


những hành động dã man


được hợp pháp


rồi an ủi


rồi tự nghĩ


sợ hãi thâm nhập khắp nơi


hôm nay đào sâu nơi này


ngày mai bới rộng nơi kia


như con chuột chũi


và chúng ta thề khinh bỉ nỗi sợ


đây là niềm tin


chúng ta sẽ chiến thắng sợ hãi


(On Fear, Sipho Sepamla)


Có bao lần người thật sự tự hỏi lòng: Cái gì là quê hương? Núi
non sông biển làng tỉnh thành phố con đường…? Không. Con người. Chính
ông bà cha mẹ bà con anh em bạn bè người quen, người dân là quê hương.
Quê hương là sản phẩm của con người. Vì vậy nếu một quê hương thất bại
là chính do người dân thất bại. Nhà cầm quyền cũng là người dân. Họ có
lỗi? Đúng. Dân không có lỗi? Sai. Cả nhà cầm quyền và dân đều có lỗi.
Cái lỗi này là kết quả của những hành xử sai lầm của cả hai: nhóm thiểu
số có quyền hành và nhóm đa số bằng lòng với số phần. Còn nhóm thiểu số
trong nhóm thiểu số có quyền hành, họ có mâu thuẫn với nhóm đa số có
quyền hành nhưng vì thủ thế vì sợ hãi, chẳng dám làm gì. Họ cũng sai
lầm. Những bằng lòng để được an toàn, những nhu nhược để thở qua ngày,
những biện hộ để yên tâm được thi sĩ Nam Tư, Keoraoetse Kgositsile diễn
đạt trong nội dung bài thơ Mirrors, Without Song:






Gương soi, không tiếng hát






Này người anh em, đừng nói là đưa tay ra


sẽ chạm đến hồn tôi. Hồn này


sâu thẳm với mong manh


và hiểu được cái chết của anh.






như vậy có gì khác không


răng tôi thường lộ liễu thế nào


khi tôi cười mỗi ngày mỗi ít?






Buổi sáng không buồn thức dậy


mắt nhìn qua cửa sổ


than thở, hay tiếc thương


chuyện này ngày kia đã lãng phí






Tôi chết trong cõi đời


và sống trong cõi chết


trong trí tôi, tiếng cười


mỗi ngày mỗi ít






Bây giờ anh thấy chưa


mọi ngày, như người nô lệ,


ngẩn mặt vô danh,


vô sinh như tấm gương in hình người chết khác?






Người anh em, tôi cười mỗi ngày mỗi ít


đừng nói sẽ đưa tay ra


chạm đến hồn tôi. Hồn này


sâu thẳm với mong manh


và hiểu được cái chết của anh.






(Mirrors, Without Song, Keorapetse Kgositsile)


Trong một bài thơ khác nhan đề Kinaxixi của thi sĩ Angola,
Augustinho Neto, ông cho thấy tâm trạng bình thường hóa, gia nhập vào
đời sống bị trị một cách nhu nhược. Có lẽ đây cũng là câu chuyện “tắc
kè” chung của nhân loại. Con người không những giống một số thú vật cần
được sinh tồn nên phải thay đổi để lẫn lộn với thiên nhiên. Con cọp cứ
vằn vện, không cần thay màu da, vì nó mạnh, vì là chúa tể sơn lâm. Những
con vật yếu thường hay thay đổi hình dạng, sắc màu để ẩn núp kẻ thù.
Những con vật độc thường thay đổi, dựa vào sự lầm lẫn để săn mồi, để hại
kẻ khác. Ngoại trừ một số con vật, thay đổi hình dong, sắc màu, hay
hơn, đẹp hơn bởi vì nó có nhiệm vụ khác. Nhiệm vụ làm đẹp cuộc đời.
Không phải tự dưng mà Trang Tử chọn cánh bướm để hỏi đời chiêm bao. Ai
chiêm bao ai? Hơn con vật, con người còn sử dụng phần tinh nhuệ trí óc
để mau mau được hóa thân, hóa sắc phù hợp môi trường chung quanh. Không
những chỉ để sinh tồn mà để vinh thân phì da. Một bản lãnh yếu ớt, cho
dù có tài năng, có trí tuệ, có cơ hội, cũng chỉ có một cuộc đời xớ rớ.


Tôi thích thú được ngồi


trên ghế dài ở Kinaxixi


lúc 6 giờ trong chiều hực nóng


rồi chỉ ngồi như vậy …






Người nào đó


có thể


đến ngồi bên tôi






Cho tôi thấy những khuôn mặt da đen


những người lên phố lớn


không vội vàng


cử chỉ lơ đễnh


ăn nói lộn xộn bằng tiếng Bantu






Cho tôi thấy những bước chân mỏi mệt


của đầy tớ kế thừa công việc cha truyền


tìm kiếm tình thương, khá giả nơi này


khác hơn là say sưa


rượu gì cũng uống






Không hạnh phúc cũng không thù hận.






Sau khi mặt trời lặn


ánh đèn sẽ mở lên


tôi sẽ đi mất


nghĩ rằng, cuối cùng đời sống thật đơn thuần


rất đơn giản


cho những ai chán nản mà vẫn phải đi.






(Kinaxixi, Augustinho Neto)


Những tâm tư hèn mọn thường co cụm ôm lấy cá nhân mình đời này và
đời sau. Bảo vệ an toàn riêng tư bằng làm ngơ trước lương tâm nhân
chứng. Bảo toàn một chỗ yên ổn đời sau:Lạy Chúa! Con yêu Chúa. Con cũng yêu bà con láng giềng. Amen.
lấy giá trị đời sau mà biện hộ đánh đổi cho giá trị đời này. Tôn giáo
là việc cần thiết cho đám đông nhưng không nhất thiết cần cho mỗi người.
Trong xã hội, đôi khi cho rằng cứ khoanh tay là bình chân như vại. Thi
sĩ Nam Tư Oswald Mtshali diễn đạt độc đáo trong bài thơ Just a Passerby:


Chỉ là người qua đường






Tôi thấy họ đánh anh ta bằng gậy


nghe anh kêu gào đớn đau


như nạn nhân bị đồ tể


Tôi ngửi thấy mùi máu tanh phun ra


từ mũi anh


tung tóe xuống đường


Tôi đi vào nhà thờ


quỳ gối trên ghế dài


Lạy Chúa! Con yêu Chúa


Con cũng yêu bà con láng giềng. Amen.


Tôi đi ra


trái tim nhẹ nhõm như nụ hôn thiên thần


phớt trên má của linh hồn thánh thiện.


Về đến nhà tôi len lỏi


qua đám đông người xem.


Rồi bà ấy bước vào


bà hàng xóm nói:


Ông nghe tin chưa, họ đã giết chết anh của ông.


Nội dung của thơ đấu tranh có thể là một bảng cáo trạng, một hịch
xách động, một bài tuyên truyền nhưng không phải là những chữ nghĩa
treo trên tường hoặc đăng báo nhật trình, báo mạng hoặc đưa lên blog.
Chữ nghĩa đấu tranh của thơ là chữ nghĩa đăng vào lịch sử, vào văn
chương, vào nghệ thuật vì vậy có chỗ cách biệt nhau rất lớn.


Cáo trạng, tuyên truyền, xách động của văn chương bình thường
mang tính thuyết phục: thường khi là cuỡng ép, thường khi là phóng đại,
thường khi cả vú lấp miệng em, thường khi chỉ là những khẩu hiệu “rỗng”
“nhàm” “chết” mà người đọc nghe thấy thường xuyên. Hai yếu tố chính
trong loại thơ khâu hiệu này là: thiếu vắng sáng tạo và ngụy tạo tâm
tình. Khi làm thơ, người không làm thơ mà đang làm việc thuyết phục của
người “xã hội chính trị” hăng say thuyết phục quần chúng. Lúc đó, họ
không mang tinh thần của người nghệ sĩ mà là chiến sĩ. Trong khi thơ cáo
trạng, thơ xách động, thơ tuyên truyền… có giá trị văn chương ở nơi:
Bừng bừng lửa tâm tư, rực rực ánh sáng tạo. Thi sĩ Angola, Ngudia Wendel
đã chứng minh hai điều này trong bài thơ We Shall Return, Luanda.


Chúng con sẽ trở về, ôi mẹ Luanda (1)






Luanda, mẹ như chim Hải Âu trắng


lượn trên đỉnh sóng biển


qua những đường sáng lạn tắm nắng chói chang,


bay trên những ngọn dừa xanh ngát…..


nhưng Luanda, chúng con đã thấy mẹ u ám dần


từ ngày 4 tháng 2 khốn nạn (2)


khi máu chiến sĩ tự do


đổ xuống trên đường tranh đấu –


những con đường xán lạn,


Ôi, mẹ Luanda.






Chúng con nhớ ngày ấy


trên đường mẹ đông người lũ lượt


như cơn lụt tràn ngập Cuanza.


Cơn thịnh nộ sấm sét lớn hơn súng đại bác


trong pháo đài của những kẻ hành hình.






Chúng con tấn công trong làn mưa đạn


và gục ngã khắp nẻo đường –


Những con đường xán lạn


Ôi, mẹ Luanda.






Chúng con chiến thắng


trong ngày khốn nạn ấy,


hàng trăm anh em da đen


bước dõng dạc cho những đường bất tử.






Chúng con băng qua rừng rậm


qua cơm mưa dầm nhiệt đới


thương binh rên rỉ trên băng ca


lưng chiến sĩ còn hằn in dây đạn


bước vội qua đầm lầy ngăn cản


chúng con đến gặp mẹ


Ôi, mẹ Luanda.






Hỡi những kẻ lạ mặt và tội phạm


đã nhận chìm Luanda trong máu tươi,


ngươi phải trả giá nhiều năm bằng sự sống


như con ve trong bụi cây.


Bây giờ ngươi run rẩy bám lấy tường bao cát


đầu đội mũ sắt


núp trong hầm súng liên thanh


nếu khôn ngoan, ngươi chắc biết


giờ phút đền tội


đã gần kề.






Ngày nào đó


các con sẽ ra khỏi rừng rậm


băng qua khói mù vừa nổ tung


để nhìn thấy mẹ, Luanda,


tàu bè trong hải cảng,


những chiếc tàu lớn, chất chồng vội vã


chở kẻ sát nhân cuối cùng….


Ngày đó không còn xa như bên kia ngọn đồi


mà gần trong tầm tay


anh em da đen hiến dâng mạng sống cho ngày đó.


Chúng con sẽ trở về, ôi mẹ Luanda!








GHI


(1) Luanda, Angola: Thủ đô của Angola. Là một thành phố lớn nhất trong vùng Nam Phi.


(2) 4 tháng 2 năm 1961 là ngày nổi loạn của các tù nhân trong
nhà tù tại Luanda. Cũng là thời điểm bắt đầu của chiến tranh thuộc địa
sẽ chấm dứt tại Bồ Đào Nha ngày 25 tháng 4 năm 1974.



Phẫn nộ là một trong những động cơ thôi thúc cho thơ đấu tranh.
Phẫn nộ đối với xâm lăng, đô hộ, đối với nhà cầm quyền, đối với bạo
quyền, thông thường đến từ ba nguyên nhân: Vì lòng yêu nước thật sự, vì
bị động chạm quyền lợi hoặc tổn thương cá nhân, gia đình và vì cả hai lý
do trên. Cho dù vì lý do gì, thơ đấu tranh cần phải đến từ niềm đau,
nỗi buồn, bực tức có thật. Từ một lòng yêu quê hương, dân tộc chân chính
sẽ mang vào bài thơ một sự đấu tranh không vì cá nhân. lòng bao la, sự
chân thật đều có thể nhận ra dễ dàng trong lời lẽ và ý tứ thơ. Ngược
lại, những đấu tranh phát xuất từ lòng bực tức khi cá nhân hoặc gia đình
bị thua thiệt, sẽ mang một không khí nhỏ hẹp và ý tứ của một người “đòi
nợ”. Thấy dân bị hành hạ khốn khổ mà phẫn nộ khác với vì mình bị hành
hạ khốn khổ mà phẫn nộ dù cả hai đều có lý do căn bản để đòi hỏi công
bằng. Thi sĩ Mozambique, Jorge Rebelo, trong bài thơ Poem for a Militant,
nói lên lòng ái quốc chính trực. Sự phẫn nộ trong những hình ảnh thơ
của đứa con cầm súng về giải phóng quê mẹ vì không còn tin có cách gì
khác hơn là phải chiến đấu bằng xương máu. Và máu đổ ra để nước mắt mẹ
được lau khô trong một ngày mai.


Mẹ ơi,


con của mẹ


cầm súng thật,


đứa con mẹ từng thấy bị gông cùm


ngày xưa


(khi mẹ đã khóc


như chính xiềng xích va chạm bầm dập


tay chân mẹ)


Bây giờ con mẹ đã tự do


Mẹ ơi.


Con mẹ mang súng thật,


Súng này


sẽ bắn đứt xiềng xích


sẽ mở cửa ngục tù


sẽ giết bạo chúa


sẽ giành lại quê hương


Mẹ ơi.


Đẹp biết bao khi chiến đấu vì tự do


công lý vang lên theo từng viên đạn bắn


giấc mơ cổ truyền sống lại như chim bay.


Chiến đấu, ra mặt trận


hình ảnh mẹ cận kề


con đánh giặc vì mẹ,


Mẹ ơi


cho khô dòng lệ chảy


từ đôi mắt.






(Poem for a Militant, Jorge Rebelo)






Ngoài căn bản của biểu hiện, biểu tượng cũng là một cách thông
dụng để diễn đạt trong thơ. Biểu tượng chủ yếu là khơi dậy, là gợi ý hơn
là diễn tả trực tiếp như biểu hiện. Rõ rệt nhất là phong trào Hình
Tượng (Imagism) mà thi sĩ T.S. Elliot và thi sĩ Ezra Pound chủ xướng vào
đầu thế kỷ 20, sử dụng nhiều hình ảnh trong thơ và ngôn ngữ thật nhạy
bén. Những hình ảnh này chính là sự sáng tạo đột xuất, gây ra kinh ngạc
hoặc sự hài lòng cho người viết lẫn người đọc. Khác với loại sáng tạo có
tính dây chuyền kéo dài trong một đoạn thơ hoặc suốt bài thơ, những
hình ảnh này thay thế những chữ nghĩa dài dòng cưu mang tâm sự và có khả
năng khơi dậy tình cảm và xúc động mạnh hơn, sâu sắc hơn là diễn tả.
Mặc dù phong trào Hình Tượng chỉ có đời sống huy hoàng ngắn ngủi nhưng
kỹ thuật dụng hình, nối hình, sánh hình, đối hình, liên hình đã trở
thành yếu tố căn bản trong thơ vì kỹ thuật này đáp ứng được nhu cầu hình
ảnh trong thơ. Không có hình ảnh sẽ không có thơ.


Thơ đấu tranh là thơ cần nhiều hình ảnh vì hình ảnh có khả năng
nói lên những điều mà chữ nghĩa không cần nói. Diễn tả một hình ảnh
thường khi có khả năng gây cảm xúc hơn là kể một mẩu chuyện. Thi sĩ Nam
Phi, Oswald Mtshali, trong bài thơ Nightfall in Soweto, nói đến
những hiểm họa trong đêm thường xuyên xảy ra cho dân da đen và nỗi sợ
hãi đe dọa trở thành sự ám ảnh nan y. Ông diễn tả bằng những hình ảnh
thực tế mang sự nguy hiểm và những hình ảnh tâm lý mang sự hãi kinh, san
sát, liên tục, trong những câu thơ gãy gọn, nhanh, diễn biến, làm cho
người đọc theo dõi hồi hộp và kinh dị. Để rồi sực tỉnh với câu kêu trời:
Tại sao không là ngày mãi mãi?


Đêm xuống


như bệnh hoạn kinh hãi


thấm qua lỗ chân lông


trên thân thể khỏe mạnh


rồi hủy hoại không cách cứu chữa.


Bàn tay sát nhân


rình rập trong bóng tối


cầm chặt dao găm


đâm ngả nạn nhân không kháng cự.


Tôi là nạn nhân


Tôi bị làm thịt


ngoài đường hàng đêm


Sợ hãi dồn tôi vào xó góc


dày vò con tim ươn hèn


tôi héo hon vì bất lực.


Người trở thành thú vật.


Người trở thành mồi săn.


Tôi là con mồi


bị truy đuổi đến kiệt sức


bởi kẻ cướp hung tàn


được thả ra trong đêm thảm họa


từ địa ngục.


Nơi nào cho tôi an toàn?


Nơi nào cho tôi tị nạn?


Chắc chắn không phải là căn nhà hộp diêm


Nơi tôi phòng thủ khi đêm xuống


lo sợ khi bước chân lạo rạo vang lên


run rẩy khi tiếng gõ cửa ầm ĩ.


Mở cửa như chó dại sủa to


đang khát máu của tôi.


Đêm xuống! Đêm xuống!


Đêm là kẻ thù chí mạng.


Không hiểu vì sao ngươi được tạo ra?


Tại sao không phải là ngày?


Tại sao không là ngày mãi mãi?


(Nightfall in Soweto, Oswald Mtshali)


Từ nguyên thủy, thơ Tây cũng như thơ Đông, đều chú trọng đến chữ
đắc địa và câu sáng. Thơ Trung Hoa, thơ Việt càng coi việc này là hệ
trọng. Nhất là câu cuối hoặc đoạn cuối của bài thơ. Đó là lẽ tự nhiên,
mọi câu chuyện đều có một kết luận cho dù không có cũng là một cách có.
Ai cũng muốn biết lúc cuối sẽ ra sao. Chữ đắc địa chẳng những là những
ngọc ngà trân châu nạm vào bài thơ mà còn chứng tỏ người sáng tác hiểu
rõ và cao kỳ hóa bài thơ của mình. Không phải tự nhiên mà thơ Bùi Giáng
thường có những câu kết bất hủ và những chữ sáng tạo nằm chói ngời trong
thơ.


Mãi vào thế kỷ 19, Tây phương rộ lên phong trào Ấn Tượng, chủ yếu
cho hội họa và tạo hình. Nhưng thơ cũng đã sử dụng một số kỹ thuật vẽ
đưa vào chữ nghĩa. Với hội họa là những cú phệt, nhát chấm, đòn ngắn,
những đường nét nhanh nhẹn như nhịp đập trong tim để tác thành thực chất
của đối tượng, hơn là vận công vẽ tỉ mỉ những chi tiết. Màu sắc quấn
quít gần nhau, ít pha trộn, không cần chờ khô, chồng chất lên nhau, theo
sự rung động. Không dùng màu đen nhưng dùng nhiều màu xám và màu đậm.
Họa sĩ thường vẽ trong buổi chiều để lấy bóng sáng “âm u”, “ẩn mật”. Đưa
sang thơ, chữ, cụm chữ và chữ đắc địa trở thành kỹ thuật của cú, đòn,
nét, nhanh, gọn, thực chất, không cần đi sâu vào chi tiết dông dài, tỉ
mỉ. Câu sáng trở thành xám. Vẫn là những câu đánh động thẩm mỹ của viết
và đọc nhưng ẩn mật sự suy tư, màu xám, màu đậm. Từ phong trào này trở
đi, chữ và câu thơ mở ra một con đường khác, so với thơ lãng mạn, thơ
biểu hiện, có lẽ khó hiểu hơn. Nhưng mục đích của thơ Ấn Tượng không
phải nhắm vào tri thức mà chỉ tạo ra những chữ nhấn, câu nhấn để thực
chất của đối tượng tự lộ liễu. Kỹ thuật này đến nay đã trở thành căn
bản. Bài thơ The Song of Sunrise của thi sĩ Oswald Mtshali:


Lưỡi gươm lúc tảng sáng


đâm rách toạc màn đêm


che ngang vòm trời,


rồi buổi sáng


hé nhìn qua tấm mền


như đứa bé đứng dậy


từ chiếc nôi


để lắng nghe


chuông réo.






Thức dậy! Thức dậy!


Hỡi tất cả công nhân!


Đi làm! Đi làm!


Các ngươi phải đi làm!






Xe buýt chạy ầm ầm


Tàu lửa chạy rầm rộ


Tắc xi chạy huýt còi.






Tôi lấn vào xếp hàng


chân đi giẫm lộp cộp


trên sàn sân ga,


tình cờ gặp ông sếp


vắt tôi như vắt chanh


vắt hết cạn tôi tinh túy.






(The Song of Sunrise, Oswald Mtshali)


Và bài thơ The Air I Hear của thi sĩ Keorapetse Kgositsile:


Từ gió, tôi nghe,


buốt lạnh theo thanh âm


tìm kiếm. Trí nhớ


hôm nay và ngày mai lâm râm


trong bụng như nhịp điệu


của gió vô tâm


nơi con mắt rơi giọt


lệ. Chết rồi không thể


nhớ cho dù nhớ lại


tiếng cười của chết. Nhưng trí nhớ


bướng bỉnh như tiếng gào đau đớn


dâng lên theo sóng lúc bình minh


bên trong cây dừa


nơi sa mạc: đứng lặng mình


cho hình dong thảm thiết


của quá khứ quyện vào


tương lai vô tận


hiện lên mặt lá


từ nụ cười cao cả


hơn một người sinh ra…


(The Air I Hear, Keorapetse Kgositsile)



(còn tiếp)






Share on Google Plus

About Unknown

Bài viết này được chia sẻ bởi Unknown.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét