Bruno Corty
Trần Vũ chuyển ngữ
Chức năng của nhà văn là không được để ngôn ngữ ngủ yên. Chính trị, tự thân, thường có khuynh hướng lạm dụng khẩu hiệu để trừng phạt ngôn ngữ, làm cho ngôn ngữ trở nên tầm thường. [Carlos Fuentès]
Trong tác phẩm sau cùng, Carlos Fuentès truy giảo riềng mối bất an của xứ Mễ xuyên qua mười sáu câu chuyện gia đình sắp sửa tan vỡ. [Le Figaro littéraire]
Fuentès không bao giờ che giấu sự đam mê của mình dành cho Balzac. Đến mức sắp xếp tác phẩm như một Hài kịch nhân loại [1]
mang tính trần thế Mễ-tây-cơ, với đông đúc nhân vật làm người đọc dễ
dàng thất lạc, dù tự nguyện, giống như du khách có thể đi lạc giữa
Mexico, thủ đô khổng lồ, tỏa rộng tứ phía, trong ngây ngất dị kỳ. Kể từ
tiểu thuyết Miền trong trẻo nhất (La plus limpide région)
xuất bản năm 1957, tác giả tiếp tục đào bới thành phố, lục tìm những
tình cảm nồng cháy, rượt đuổi các tật xấu, cả những trái ngược của
Mexico. Tự nhận đắm mình trong văn hóa của thế kỷ 16, của dòng văn
chương biến hóa, chuyển động, mở ra vô tận, gây mê từ chính sự bất ổn
của vạn vật, kể cả cái chết, Fuentès vận dụng hào phóng những động từ
như một con người biết hào phóng tình cảm. Với ông, từ ngữ phát ra, xô
đẩy, tràn bờ như những dòng sông cuồn cuộn trước lúc tự điều hòa, tựa có
ma thuật, trước khi nằm lại trên trang sách cho người đọc chiêm ngưỡng.
Trong Nhiễm phúc gia đình (Le bonheur des familles) [2]
vừa mới ra mắt ở Pháp, Fuentès viết về một người không biết kết thúc
lời nói của mình: ‘‘Tướng Alvirez phát ra những dấu chấm lửng như người
ta bắn những viên đạn súng trường.’’ Ở trang khác nữa, để mô tả tình cảm
vừa dịu dàng, vừa đắng chát đang xâm chiếm lấy một người đàn ông già
nua bất ngờ tìm lại tình yêu thời tuổi trẻ, Fuentès thả bút: ‘‘Nhưng quá
khứ là một đám mây dày đặc tiến đến bao phủ trên đầu con người, mà con
người không hay biết. Cho đến khi đám mây đổ mưa.’’ Và sau cùng, khi tác
giả trao lại lời kể cho thiếu niên bị người cha bắt buộc phải vào chủng
viện: ‘‘Và như thế tôi đã rời bỏ ngôi làng nơi sinh quán, bị truy đuổi
bằng các tiếng xì xầm của phiến đá vỡ và những món đồ chơi bỏ quên.’’
Cách thêu dệt bằng lời này giúp dễ chấp nhận hơn
tính bạo lực của tác phẩm vang ra từ mười sáu câu chuyện kể với rất
nhiều những mảnh vỡ từ một thực tế đáng ngại của Mễ-tây-cơ. Càng kinh
khủng hơn nữa khi tác giả thể hiện thiên tài của mình qua cách kết thúc
từng truyện bằng một bản đồng ca mà theo chính từ ngữ của Fuentès là để
đại diện cho ‘‘tiếng nói của những kẻ không có tiếng nói, của sự khốn
cùng, của bạo lực hoành hành, của sự bất ưng từ tập thể số đông những
người Mễ.’’ Mỗi gia đình mang một khí quyển riêng, với một tấu khúc
riêng mà nhịp điệu riêng của từng cá nhân làm nên nhịp điệu gia đình.
Tác phẩm này do một người đã tám mươi tuổi viết, nhưng lại đồng điệu với
thời đại bây giờ hơn những tác phẩm của các tác giả trẻ.
Fuentès có lối viết giàu nhạc tính. Nhà văn có lỗ
tai khuếch âm. Những từ ngữ của ông phát ra âm điệu nhạc rock, jazz,
blues, rap. Fuentès không chút thương hại cho những gì chúng ta phải
nghe thấy. Những lời lăng nhục, xúc phạm, vay mượn từ tiếng Anh, lối sử
dụng ngôn từ phản quy tắc, man rợ, câu cú nhát gừng, bị bằm nát, què
cụt: không có gì là vô ý vì mỗi đoạn viết đều bắn trúng hồng tâm. Còn ai
dám khoa ngôn là nhà văn Mễ-tây-cơ này biết vận dụng tất cả mọi thứ
trong cuộc đời, ngoại trừ thơ?
Trong tất cả các nhân vật mà người đọc phải giao tiếp qua tác phẩm Nhiễm phúc gia đình này,
không chút nghi ngờ, phụ nữ gây xúc động nhiều nhất. Từ những người đàn
bà đa tình, bị lường gạt, bị phản bội, bị đánh đập, bị hãm hiếp, bị
giết chết, đến những người đàn bà chịu đổ vỡ từ cái chết của con trai
hoặc con gái mình, họ làm chúng ta choáng váng, xây xẩm. Carlos Fuentès
đã bị đời sống cướp mất hai đứa con tuổi còn rất trẻ, có thể chính vì
vậy, nhà văn nhạy cảm với nỗi đau của kẻ khác. Và dùng trọn tài năng
rộng lớn của một người kể chuyện nhằm phục vụ một đất nước mà Fuentès đã
lựa chọn yêu thương từ xa, như để tự bảo vệ mình thoát khỏi những phù
phép, những cám dỗ của chính vùng đất ấy.
‘‘Sự sáng tạo không thể hiện hữu khi thiếu tính kế thừa’’
‘‘Nhà văn chỉ có thể cống hiến từ tác phẩm, cũng ích lợi như công việc của một kiến trúc sư hay một bác sĩ’’ [Carlos Fuentès]
Gặp gỡ gương mặt lớn của văn chương châu Mỹ La-tinh tại thủ đô Mễ-tây-cơ. Carlos Fuentès Macías, với tư cách một ngôi sao, sẽ được mời tham dự Hội chợ Sách Quốc tế Paris khai mạc vào ngày thứ sáu 13 tháng 3-2009. [Bruno Corty]
Thật không dễ dàng tìm ra nơi cư ngụ ở Mexico của
Carlos Fuentès trong khu vực phía nam thành phố, gần khu học xá. Tại
địa chỉ không tìm thấy tên họ. Một khung lưới, một máy thông âm, những
bức tường cao bảo vệ nhà văn. Một người Mễ còn nét thổ dân và một chú
chó đen xoay mình dẫn khách, sau khi bước qua vài bậc thềm, đến với
người chủ của ngôi nhà. Lịch lãm, thân thiện và tươi cười, nhà văn bước
vào tuổi tám mươi từ ngày 11 tháng 11-2008 vừa qua, đã có sau lưng năm
mươi năm tuổi nghề của một tiểu thuyết gia. Trong phòng khách, những bức
tranh và một tủ sách khiêm nhường, những ấn phẩm nghệ thuật bày kín
trên những mặt bàn, một ấn bản của quyển tiểu thuyết dầy sau cùng của
nhà văn chưa dịch sang Pháp văn, Ý chí và Cơ may (La Voluntad y la Fortuna), và những bức ảnh của ba người con, mà hai người là Carlos và Natasha đã chết trẻ.
Bruno Corty: Ngày 11 tháng 3, ông sẽ có
một buổi hội thảo về văn chương châu Mỹ La-tinh tại Thư viện Quốc gia
Paris. Theo ông, văn chương Nam Mỹ có thay đổi gì từ nửa thế kỷ nay?
Carlos Fuentès: Thay đổi
kinh khủng. Khi tôi mới bắt đầu nghiệp văn, gần như không có tiểu thuyết
gia. Khi đó đã có một nhà phê bình gạo cội tuyên cáo: ‘‘Châu Mỹ La-tinh
là một cuốn tiểu thuyết không có người viết.’’ Sau đó bắt đầu có tiếng
nói của Pablo Neruda; tiểu thuyết gia đầu tiên là Alejo Carpentier,
Borges và Asturias nối tiếp. Rồi thì « bùng nổ » phong trào văn chương
của mười hai tác giả gồm García Márquez, Cortázar, Vargas Llosa… Giờ
đây, có trên trăm tay viết hay, trong toàn cõi châu Mỹ La-tinh.
Bruno Corty: Về sự « bùng nổ » của chuyển
động văn học này, mà ông là một trong những gương mặt chính, đã tái định
nghĩa thực tế Nam Mỹ, ông từng tuyên bố: ‘‘Chúng tôi đã viết lịch sử
với một chữ « L » lớn, các kẻ kế nhiệm viết với một chữ « l » tầm
thường…
Carlos Fuentès: Vào thời kỳ
của chúng tôi, cùng với García Márquez và Vargas Llosa, chúng tôi bắt
buộc phải nói tất cả những gì trước đây chưa được nói đến trên lục địa
im lặng này. Trong tiểu thuyết, chúng tôi có khuynh hướng phác họa toàn
cảnh, một phối cảnh chung, trong lúc ngày nay lịch sử đã trở nên riêng
tư hơn, cá nhân hơn, người ta khai thác tình dục và tình yêu. Lớp tác
giả mới « chạy máy » theo phong cách của các nhà văn đương đại Anh-Mỹ.
Lớp tác giả này không tự đặt cho mình những câu hỏi mà Dos Passos hoặc
Melville đã đặt ra thời trước. Ngày nay, người ta cho rằng không còn cần
thiết phải đề cập đến những chủ đề lớn liên đới đến chính trị hay lịch
sử nữa.
Bruno Corty: Dường như ông có vẻ đố kỵ, ganh ghét với sự tự do của lớp văn sĩ hiện nay…
Carlos Fuentès: Tôi không hề ít
tự do hơn họ. Nhưng ông phải hiểu rằng, lúc mới khởi nghiệp, khi đó tôi
đọc Pedro Paramo của Juan Rulfo, kiệt tác của thể loại tiểu thuyết thôn
dã, khi đó tôi đã biết chắc rằng tôi không thể viết hay hơn cuốn tiểu
thuyết này, về phong trào giải phóng nông dân. Vậy là tiêu. Pedro
Paramo, đích thực là một quả táo vàng sinh ra từ một gốc cây khô. Vì thế
tôi đã tự hỏi mình tại sao không có một tác phẩm lớn viết về thủ đô
Mexico. Một thủ phủ với năm triệu dân mà không có lấy một dòng nào về
họ, về trái tim của đất nước. Lúc đó tôi chỉ mới hai mươi lăm tuổi và
tôi quyết định lao vào công trình này.
Bruno Corty: Quyết định này đã cho ra đời Miền trong trẻo nhất, tiểu thuyết đầu tay của ông. Bức tranh cực kỳ hiện đại về thủ đô Mexico được chào đón ra sao?
Carlos Fuentès: Có một tay
phê bình đã viết: ‘‘Trong vòng hai tuần lễ, công chúng sẽ quên
Fuentès!’’ Mọi người trách tôi là đã phản bội lối văn cổ điển, và nhất
là vận dụng những từ ngữ khiếm nhã. Tiếp theo sau đó, thủ đô Mexico trở
thành chốn tôn nghiêm, không ai được phép nhắc đến những đại gia đình
tiếng tăm. Do tôi đã nhạo báng thứ văn chương lễ nghĩa, chắc chắn tôi
phải là một tay làm cách mạng! Kết cuộc, tác phẩm đã thỏa mãn một số
người, đa số là những kẻ trước đây đã tấn công cuốn sách, nhưng tác phẩm
của tôi vẫn trụ được. Hôm nay, bên Tây-Ban-Nha vừa phát hành một ấn bản
tuyệt đẹp nhân kỷ niệm 50 năm từ lần xuất bản đầu tiên của Miền trong trẻo nhất.
Bruno Corty: Tiểu thuyết và ngôn từ có thể giải thoát con người?
Carlos Fuentès: Không, tôi không tin. Mỗi con người phải tự giải thoát bằng
chính cuộc sống riêng của mình, bằng công việc, bạn bè, và bằng cách
tìm kiếm tự do. Nhà văn chỉ có thể cống hiến từ tác phẩm, cũng ích lợi
như công việc của một kiến trúc sư hay một bác sĩ. Không hơn nữa. Chức
năng của nhà văn là không được để ngôn ngữ ngủ yên. Chính trị, tự nó,
thường có khuynh hướng lạm dụng khẩu hiệu để trừng phạt ngôn ngữ, làm
cho ngôn ngữ trở nên tầm thường. Luôn luôn là như vậy.
Bruno Corty: Ông đã luôn chơi chữ?
Carlos Fuentès: Có lẽ ẩn náu
trong con người tôi một thi sĩ thất bại! Tôi viết tiểu thuyết, truyện
ngắn, tiểu luận, kịch bản, nhưng không hề làm thơ… Tôi vừa đọc lại
Baudelaire và hiểu rằng chúng ta không thể ngang bằng với ông ta. Đối
với thiên tài này, khiêm tốn là điều bắt buộc. Tương tự như Cervantès
trong lĩnh vực tiểu thuyết. Tôi đọc lại Don Quichotte mỗi năm vào dịp lễ Phục Sinh, và mỗi năm tôi lại kinh ngạc khám phá những điều mới lạ.
Bruno Corty: Fuentès xem Don Quichotte là một thánh thư?
Carlos Fuentes: Trong mắt tôi đó là quyển
tiểu thuyết nền tảng của văn chương Âu châu. Tôi nói điều này ngay cả
khi biết rằng có rất nhiều người không đồng ý. Malraux cho rằng tiểu
thuyết nền tảng phải là cuốn Công chúa thành Clèves [3] của Pháp. Dân Anh khẳng định rằng chính một văn hào Anh đã tạo ra tác phẩm này. Don Quichotte
mới là tác phẩm lớn nhất, vì đã tập hợp trong đó tất cả mọi thể loại.
Danh mục thể loại của Cervantès vô tận. Trong nhãn quan của tôi, Kafka
là sự đảo lộn lớn kế tiếp. Kafka đã đụng đến cốt lõi đáng nguyền rủa của
thế kỷ 20. Trước thiên hạ, Kafka đã tiên đoán những nhức nhối tệ hại
của chủ nghĩa độc tài – toàn trị – cực quyền, của sự nô lệ, của tính hận
thù điên loạn.
Bruno Corty: Ngày nay, dân Mễ-tây-cơ không màng đến các tác giả Pháp. Thế còn ông?
Carlos Fuentès: Tôi đã khám phá
và đọc Le Clézio và Modiano, nhưng người mà tôi mê nhất và cũng là tác
giả ít được biết đến ở đây, là Mauriac. Ở François Mauriac, tôi tìm thấy
tất cả sự thông minh của Thiên Chúa giáo. Điều tôi yêu mến nhất từ
Mauriac là chính vì ông ta luôn tự kềm giữ và cùng lúc đề cập đến những
vấn đề đạo đức. Như quyển Ổ rắn độc (Le Nœud de vipères) đã có ảnh hưởng rất lớn đến tác phẩm Cái chết của Artémio (La Mort d’Artémio)
của tôi. Ông biết, tôi rất nhạy cảm với ý tưởng hiện hữu một sự nối kết
trong cả một chuỗi các nhà văn. Con người phụ thuộc vào sự kế thừa. Con
người phát triển sự kế thừa đó với sức sáng tạo riêng của mình. Nhưng
sự sáng tạo không thể hiện hữu khi thiếu tính kế thừa.
Bruno Corty: Ông luôn sáng tác trong lúc đi bộ?
Carlos Fuentès: Đúng vậy, ở Luân
Đôn, nơi tôi sống phần lớn thời gian trong năm, tôi đi bộ mỗi ngày. Ở
đây thì có khó khăn. Lúc còn trẻ, tôi đi bộ rất nhiều ở khu trung tâm
thành phố. Bây giờ thì tôi không còn dám nữa vì bên ngoài có nhiều nguy
hiểm. Thật đáng tiếc, vì trong trung tâm thành phố người ta cảm được
những điều bất thường, mê hoặc.
Bruno Corty: Như ông từng kể, ông từng linh cảm một quá khứ thổ dân Aztèque ở Mexico.
Carlos Fuentes: Đúng thế, tôi đã nói đến những luồng không khí kỳ lạ, đến cảm giác về sự hiện diện của thần chết. Mexico là
một thành phố với nhiều tầng bậc. Hernan Cortès xây dựng trung tâm lịch
sử Zocalo để thay thế Tenochtitlan đã bị chôn vùi và phá hủy, nơi từng
diễn ra các nghi lễ tế thần. Theo thời gian, thành phố này bị vùi lấp,
còn những bộ xương người thì lại ngoi lên. Thành phố xoáy ốc kỳ quái của
Cortès, thành phố của thế kỷ 19, thành phố mang mác Mỹ giả hiệu: tất cả
những sự hòa lẫn này lại càng quyến rũ tôi thêm. Với số dân cư 20
triệu, gần giống một quốc gia hơn là một thành phố. Khi tôi sinh ra, chỉ
có 5 triệu dân. Mexico là một hồn ma đô thị. Thành phố luôn chật
cứng xe cộ. Mặc cho cơn ác mộng này tạo cảm giác là mọi thứ đều không
hề dịch chuyển, nơi đây vẫn là thành phố của tôi. Mỗi nhà văn có một
thành phố của riêng mình. Balzac có Ba Lê, Dickens, Luân Đôn, Dos Passos
có Manhattan. Còn tôi, là Mexico. Một nơi mang đến làn gió cho sự tưởng
tượng.
Bruno Corty: Chống đối quyết liệt chính sách của Bush, chắc hẳn ông phải hài lòng với chiến thắng của Obama?
Carlos Fuentès: Tất nhiên
rồi. Nhưng tôi tự hỏi tuần trăng mật sẽ kéo dài bao lâu. Tuy vậy, thế
giới đã khác, một nhân sinh quan khác đang nảy sinh, với một người thông
minh biết ăn nói, biết tập hợp chung quanh mình những con người khác
nhau. Hãy thử suy nghĩ chỉ với hai tuần lễ sau chiến thắng, Obama đã có
những quyết định quan trọng. Ông ta đã gợi mở một cách rõ ràng và mạnh
mẽ những vấn đề về Irak, Palestine và Do thái.
Bruno Corty: Cách nhìn của Fuentès về sự dấn thân của một nhà văn, vẫn luôn trái ngược với Sartre?
Carlos Fuentès: Luôn luôn như
vậy! Sự dấn thân sinh tử, phải là sự đối mặt với trí tưởng tượng và ngôn
ngữ. Điều này phải đến trước bất kỳ một dấn thân chính trị nào khác.
Dấn thân chính trị không phải là điều bắt buộc, đó là một lựa chọn. Khi
tôi viết trong mục diễn đàn trên khắp báo chí quốc tế, đó là sự lựa chọn
của một công dân. Tôi viết ở cương vị một công dân nhưng bằng ngôn ngữ
của một nhà văn. Nhưng tôi không để tín ngưỡng chính trị của mình xâm
nhập vào tác phẩm. Hãy nhớ Balzac, tuy là một tín đồ Thiên Chúa giáo,
bảo thủ và phản động, nhưng Balzac đã viết những tác phẩm mang tính cách
mạng nhất trong thời đại của ông ta!
Bruno Corty: Vào tuổi tám mươi, ông vẫn tiếp tục nung nấu nhiều tác phẩm?
Carlos Fuentès: Dĩ nhiên. Tôi vừa cho xuất bản Ý chí và Cơ may (La Voluntad y la Fortuna),
chuyện về Abel và Cain, hai anh em thù nghịch. Bạo lực là trung tâm
điểm của cuốn tiểu thuyết được kể lại từ một cái đầu bị chặt đứt của một
trong hai nhân vật chính. Tôi viết cho những đứa con đã chết của mình.
Chúng là hiện thân của tôi bây giờ. Và cũng vì buông bút, không làm gì
hết, sự chán chường mang gương mặt của thần chết.
Bruno Corty
Trần Vũ chuyển ngữ từ nguyên tác Pháp văn Carlos Fuentès: ‘‘La création n’existerait pas sans la tradition’’ và “Le vieux romancier qui déchire les phrases”, do Bruno Corty giới thiệu và thực hiện phỏng vấn cho trang văn học của nhật trình Le Figaro số ra ngày 5 tháng 3-2009.
Xem lại và hiệu đính 2 tháng 6-2015.
[1] Hài kịch nhân loại (La Comédie humaine), Honoré de Balzac.
[2]
Nhiễm phúc gia đình (Le Bonheur des familles), Carlos Fuentès, bản dịch
Pháp văn từ tiếng Tây Ban Nha của Aline Schulman và Celine Zins, tập
truyện, Nxb Gallimard, 468 trang, giá bán 22,50 €.
[3]
Công chúa thành Clèves (La princesse de Clèves), xuất bản nặc danh vào
năm 1678, vì trong thế kỷ 17 phụ nữ Pháp không được quyền viết và xuất
bản tiểu thuyết. Văn giới Anh lưu truyền là do một văn hào Anh trước
tác, về sau Marie-Madeleine Pioche de La Vergne được xác định là tác
giả.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét