CÁC “TAI NẠN VĂN CHƯƠNG” (22): VỀ KINH BẮC (1)



Về Kinh
Bắc
 bài nào cũng buồn


(Tâm
tình với bạn đọc talawas)





Hoàng Cầm 



Tập thơ
 Về Kinh Bắc (NXB Văn
học 1994) không được nêu tên trong danh mục những tác phẩm được Giải thưởng của
Nhà nước Việt Nam lần thứ V, nhưng trong các tập thơ
 
Bên kia sông Đuống (NXB Văn
hoá 1993),
 
Lá Diêu bông (NXB Hội Nhà văn 1993), 99 tình khúc (NXB Văn
học 1999) được nêu trong giải thưởng, có rất nhiều bài nằm trong bản thảo Về
Kinh Bắc, trong đó có đủ những bài thơ chủ yếu bị quy kết là phản động hồi
những năm đầu thập kỷ 1980 (“Cây tam cúc”, “Lá Diêu bông”, “Quả vườn ổi”…). Để
bạn đọc có dịp đọc toàn bộ tập thơ đã trở thành một di sản văn hoá nước nhà
trong bản chính thức của nó, chúng tôi đã đề nghị chính tác giả Hoàng Cầm cung
cấp tài liệu. Nhà thơ đã vui vẻ nhận lời và nhân dịp này, có đôi lời tâm sự với
bạn đọc.
 


talawas








Về Kinh Bắc ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Vào cuối
những năm 1950, bốn anh em chúng tôi (Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình
Hưng) sau khi đi lao động cải tạo về, vẫn nằm trong thời kỳ bị kiểm soát chặt
chẽ. Nói cho đúng thì riêng tôi không phải đi lao động, (không biết vì lý do gì
mà những nơi Hội Nhà văn liên hệ để đưa tôi đến lao động đều không nơi nào chịu
nhận, thế là tôi thoát!) trong khi Lê Đạt thì đi Phú Thọ, Trần Dần đi Thái
Nguyên. Và nói về sự kiểm soát thì tôi cũng được thoải mái hơn hai anh ấy. Tôi
cứ việc ở nhà trong khi Lê Đạt và Trần Dần thì tất cả các buổi sáng phải đến
ngồi ở Hội Nhà văn. Chỉ uống nước chè, tán chuyện, cười ha hả thôi, nhưng vẫn
phải đến. Nhưng việc in ấn thì dứt khoát là không được phép. Trong tình cảnh
ấy, tôi đề xướng với các bạn: lúc này chính là lúc bọn mình phải để tâm vào
việc phá ra về thi pháp, phải phá ra khỏi kiểu thơ Tố Hữu, hay nói rộng ra là
kiểu thơ cũ mà mình đã chán ngấy. Thế là bốn anh em thống nhất về đường lối
sáng tác. Từ đấy hai anh Trần Dần, Lê Đạt ở Hội Nhà văn sáng sáng chỉ tán
chuyện một lúc rồi mỗi người yên lặng cắm cúi viết lách. Trần Dần viết
 Cổng tỉnh dựa vào những kỷ niệm thời thanh niên ở Nam Định. Lê Đạt thì những kỷ
niệm ở Yên Bái (thân phụ của anh làm xếp ga ở đó) cho anh loạt thơ sau in trong
 Bóng chữ.
Đặng Đình Hưng, với sự "đỡ đầu" (dùng đúng từ anh nói) của Trần Dần,
cũng viết được những bài thơ mới hẳn, lâu lâu anh lại đến khoe, rất hào hứng.
Tôi rất thích những bài thơ ấy của Hưng, và học tập được khá nhiều ở tinh thần
mới mẻ của anh.




Riêng tôi, như đã nhiều lần tự bạch, tôi viết Về Kinh Bắc hoàn toàn nhờ chìm đắm vào những kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi luôn nghĩ
rằng: với bất cứ anh thi sĩ nào, cái thời kỳ từ 5 đến 15 tuổi là thời kỳ quyết
định hơi thơ, cốt cách thơ của cả đời anh ta. Từ năm 4 tuổi đến 14 tuổi (lúc đỗ
certificat
 
[1] ), tôi sống ở một phố nhỏ trên đường quốc lộ 1, cách
thị xã Bắc Giang 6 km. Mười năm ấy ăn vào mình nhiều nhất. Chỗ tôi ở là một con
phố đìu hiu, lèo tèo vài hàng quán, ông thân sinh tôi mở hàng thuốc bắc ở đó,
còn mẹ tôi thì có gánh hàng xén. Cái phố ấy vẫn có phong vị nông thôn với rặng
tre, cây đa, con đường đất nhỏ, lại có tí văn minh với cảnh ô tô, tàu hoả, tôi
hay ra ga xem khách lên khách xuống, tàu đến tàu đi. Những đêm trăng cô hàng
xóm thích hát xướng tập họp bọn trẻ trong phố ra giữa đường hoặc cái bãi rộng sau
ga hát trống quân, cò lả…




Có lẽ vì thế mà toàn bộ tập Về Kinh Bắc chìm trong cái buồn, cái buồn của sự hoài vọng quê hương, bài nào cũng
buồn, câu nào cũng buồn. Hồi trong Hoả Lò
 
[2] bị buộc phải viết kiểm điểm về tập thơ này, tôi cũng
dễ dàng thừa nhận là tập thơ buồn quá. Nguyên cái buồn ấy hình như đã là chống
lại đường lối văn nghệ của Đảng rồi, vì Đảng yêu cầu văn nghệ phải khấn khởi
tươi vui. Nhưng ngoài cái đó ra, tôi còn phải nhắm mắt tự nhận tội với những từ
nặng nề nhất như phản động, chống Đảng. Có điều tôi cũng viết rất khéo sao cho
nếu bản kiểm điểm sau này được công bố thì bạn bè và công chúng cũng thấy đó là
sự nhận tội không tự nguyện, nhận mà là không nhận. Thí dụ như tôi dẫn chứng
câu thơ "Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa"
 là rủa Đảng, bài thơ “Lá Diêu bông” và một số bài khác
là mang tính chất tư sản, than thở số phận con người, qua đó thấy cuộc sống
thất vọng quá, buồn quá, những ước nguyện đẹp nhất đều không thực hiện được.




Sau khi tôi ra tù, không ít bạn trách tôi vì sao
lại nhận tội như thế? Có phải là hèn quá chăng? Nhưng thực tế hoàn cảnh tôi
trong tù rất khốn đốn, sau ba tháng là sức khoẻ suy sụp, nếu kéo dài thêm hai
tháng nữa thì có thể chết trong tù. Vì vậy, trước sức ép ngày đêm của những
người công an thụ lý và những hứa hẹn của họ, tôi suy nghĩ: phải giữ cái mạng
của mình cái đã, phải tồn tại, phải sống, còn tác phẩm của mình chẳng đi đâu mà
mất, nó còn hay không là do nó, nó có giá trị thì nó sẽ tồn tại. Cho nên tôi
quyết định nhận tội. Khi tôi viết xong bản kiểm điểm (dài 6 trang giấy thếp thì
phải), anh công an thụ lý tên N. đọc ngay, và bảo "Tốt quá rồi!". Hôm
sau, anh đem đến một cái cassette mới toanh, bảo tôi tự đọc bản kiểm điểm vào
máy. Anh cẩn thận dặn tôi phải đọc hết sức tự nhiên, không phải như người bị ép
buộc hoặc như đọc dictée
 
[3] . Là một diễn viên kịch, tôi thừa sức để
"diễn" theo đúng ý anh. Tôi muốn tỏ ra hết sức ngoan ngoãn, cốt để
được về. Tôi vừa đọc xong, anh ta chồm dậy, bắt tay tôi rối rít và cảm ơn cảm
ơn hai lần liền, sau đó cho người đi mua phở cho tôi ăn. Anh còn tuyên bố:
"Chúng tôi sẽ đề nghị để Tết này anh được về". Tôi mừng quá, viết thư
về cho bà Yến
 
[4] báo tin vui. Thế là suốt những ngày gần Tết năm ấy tôi
cứ khấp khởi đợi chờ. Sau này tôi biết bà Yến nhà tôi cũng trong tâm trạng ấy.
Sáng 30 Tết bà bắt anh con rể mang xe đến chờ ở cổng Hoả Lò suốt từ sáng tới
tối. Nhưng thực tế là tôi không được thả như lời hứa của công an mà ngay mồng 4
Tết thì bị chuyển tới "xà lim bộ"
[5] và tiếp tục bị giam, tổng cộng là 18 tháng.



Vì sao lại có chuyện thay đổi như thế? Có phải
anh công an tên N. đã nói lừa tôi cốt để tôi nhận tội cho được việc của anh ta?
Tôi cũng không rõ sự thực thế nào, cho đến một hôm sau khi đã ra tù, tôi tình
cờ gặp một anh công an thụ lý khác (xin phép không nêu tên) ở quán bia Hội Liên
hiệp Văn học Nghệ thuật (đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội). Trông thấy tôi anh mừng
lắm, anh mời tôi vào uống bia để tâm sự. Anh nói là anh đã ra khỏi ngành, và
anh kể cho tôi một chuyện khá bất ngờ. Chuyện đại ý như sau: Sau khi tôi nhận
tội, công an đã định cho tôi về thật. Nhưng trong thời gian chờ đợi giải quyết,
thì một hôm ông Lê Đức Thọ
 
[6] gọi công an lên hỏi về vụ Hoàng Cầm ra sao rồi, và
thông báo rằng có một số trí thức Pháp, những người quen biết nhiều với ông, đã
giúp đỡ ông và đoàn đại biểu Việt Nam ở Hội nghị Paris, vừa gửi thư cho ông yêu
cầu nếu xét Hoàng Cầm không có tội trạng gì cụ thể thì hãy thả ngay nhà thơ ra.
Ông còn nhắc nhở: "Các cậu xem thế nào thì giải quyết đi, không có thì
mang tiếng lắm". Sự việc trên được công an báo cáo với Tố Hữu
 
[7] . Ông lập tức hạ lệnh: "Ngoại quốc can thiệp hả?
Đã thế thì cho thêm một năm nữa!"




Thái độ cứng rắn đến nghiệt ngã của Tố Hữu với
riêng tôi cũng như với các anh em
 Nhân
văn-Giai phẩm
rất nhất quán. Ngay cả
đối với những sáng tác mà anh em chúng tôi tìm lối mới vào cuối những năm 1950
nói trên, ông cũng rất ghét, mặc dù không biết ông có đọc hay không. Lại nói là
sau khi bốn người chúng tôi bật ra được thứ thơ ấy, ai cũng mãn nguyện vì đã lộ
rõ cốt cách từng người. Riêng tôi thì ngay từ lúc viết xong
 Về Kinh Bắc, tôi đã tin là nó có giá trị, có đóng góp cho văn học nước nhà. Tuy tôi
không dám truyền đi rộng rãi, chỉ cho vài người bạn đọc, nhưng rồi nó được tự
động lan truyền, đặc biệt có những bạn sinh viên trẻ say mê nó lạ lùng. Phải
nói tình yêu đối với
 Về Kinh Bắc có cái gì đó rất đặc biệt. Tôi không tin là tập thơ dễ
hiểu chút nào, đặc biết là phần
 Nhịp
một
 
với "những đêm ngũ
hành" kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Ngay nhà thơ Lữ Huy Nguyên, cố giám đốc
NXB Văn học, cũng thú thực với tôi rằng: "Em in cho anh thì cứ in chứ nói
thật là em chỉ hiểu được 1/4 tập thơ". Đến anh công an thụ lý N. sau khi
tôi nhận tội cũng thú nhận: "Thực tình tôi chẳng hiểu anh nói gì, bây giờ
anh khai ra tôi mới biết ý đồ chống Đảng của anh, thì ra anh thâm thuý
thật!"




Việc chúng tôi sáng tác những tác phẩm mới nhanh
chóng được báo cáo với Tố Hữu. Một người bạn được tham dự buổi họp tuyên giáo
mở rộng kể với tôi rằng trong cuộc họp Tố Hữu đã cảnh báo: "Tụi Trần Dần
Hoàng Cầm… bây giờ đang thực hiện đúng khẩu hiệu
 phục xuống sáng tác mà Văn Cao đã khởi xướng. Phải canh chừng và dập tắt
ngay."




Đây là lần đầu tiên tôi nói rõ một số chuyện
liên quan đến
 Về Kinh Bắc, nói ra để khép lại những cái đau buồn ấu trĩ của một
thời. Bây giờ, tôi xin các bạn thưởng thức nó vượt qua mọi bối cảnh chính trị
xã hội, thưởng thức nó như một tác phẩm nghệ thuật mà đến hôm nay tôi vẫn thấy
hài lòng.
 


Hoàng Cầm






Tham khảo: Một trong những bản thảo đầu tiên của VKB
(tang vật vụ án):


















Share on Google Plus

About Unknown

Bài viết này được chia sẻ bởi Unknown.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét