VỀ MỘT ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HỌC…
Bàn với anh Hoàng Ngọc Hiến về bài VỀ
MỘT ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HỌC VÀ NGHỆ THUẬT Ở TA TRONG GIAI ĐOẠN VỪA QUA
TÔ HOÀI
Văn Nghệ, Hà Nội, s. 42, ngày 20/11/1979
LTS. – Trên trang lý luận phê bình của báo Văn
Nghệ số 23 (814) ra ngày 9 tháng 6 năm
1979 đã đăng bài Về một đặc điểm của
văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua của Hoàng Ngọc Hiến. Tác giả bài báo đã phân tích và lý giải một số
tình hình của văn học nghệ thuật hiện nay và đưa ra nhận xét riêng rằng: “Xu hướng
cao cả như là một đặc tính phổ quát của nền văn học nghệ thuật của ta hiện nay”.
Những
kiến giải của tác giả còn nhiều chỗ phải bàn bạc, thảo luận cho sáng tỏ đúng
sai. Chẳng hạn như cách đánh giá tình hình văn học nghệ thuật còn có chỗ chưa
thỏa đáng; việc quy một số nhược điểm của văn học nghệ thuật vào nguyên nhân của
cái mà tác giả gọi là “trạng thái nhân thế” một cách thiếu thận trọng; một số vấn
đề về học thuật cùng với cách diễn đạt ít nhiều mang màu sắc của lối tư duy tư
biện, v.v., cần phải bàn bạc lại. Một số bạn đọc đã gửi thư hoặc gặp chúng tôi
để góp ý kiến về các thiếu sót, sơ hở của tác giả và của tòa soạn khi cho đăng
bài báo trên.
Dưới
đây chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của nhà văn Tô Hoài Về một đặc điểm của
văn học… nhằm bàn lại với
tác giả Hoàng Ngọc Hiến một số vấn đề căn bản và cần nhận định lại cho đúng. Chúng
tôi hoàn toàn đồng tình với bài viết của nhà văn Tô Hoài trên những vấn đề cơ bản
nhất của văn học nghệ thuật của ta hiện nay. Tuần báo xin nhiệt liệt cám ơn nhà
văn Tô Hoài và đông đảo bạn đọc đã quan tâm và đóng góp nhiều ý kiến bổ ích cho
tòa soạn.
TUẦN BÁO VĂN NGHỆ
Nền văn học cách mạng của ta còn non
trẻ. Nhưng nó đã được nuôi dưỡng lớn lên bằng sức mạnh của đất nước. Cuộc đổi đời
sôi nổi và quyết liệt trải dài hơn ba mươi năm vẫn đang tiếp tục, thúc đẩy xã hội
tiến lên, tạo nguồn sống cho văn học.
Sự nghiệp của cách mạng làm nên do
hàng triệu người nhất loạt hành động. Nhìn được ra như thế là cách nhìn cách mạng.
Còn nhớ hơn ba mươi năm trước, trong kháng chiến chống
Pháp, lâu rồi mà nhớ mãi, một lần Nam Cao từ khu Ba vượt đường số 6 giặc chiếm
đóng lên Việt Bắc, anh kể lại cho tôi nghe anh đã gặp anh Hoàng một người bạn của
chúng tôi ở một làng tản cư. Truyện ngắn Đôi
mắt Nam Cao viết giống hệt câu chuyện
anh kể. Cuộc trường kỳ kháng chiến đã đưa người tiểu tư sản trí thức ấy rời
thành phố, nhưng anh không nhìn ra được sức mạnh to lớn của người nông dân
kháng chiến, anh chỉ thấy quanh mình những cái vặt vãnh, đáng cười và bực mình.
Sự sống cách mạng dẫn đến hình thành sức mạnh hàng triệu
triệu quần chúng đứng lên, không thể bó hẹp hành động cách mạng vào khuôn “quy
luật của sự thích nghi sinh tồn” được. Cách cắt nghĩa thiếu cả lý luận và thực
tế này đã khiến ta không phân biệt được thật giả, người không thấy lại đi bắt
bóng, chi tiết mà ngỡ đại cục. Như Nam Cao đã vạch ra những nhầm lẫn của con mắt
người tiểu tư sản trí thức trong truyện ngắn nổi tiếng Đôi mắt của anh.
Gần đây tôi nhận được thư của một cô giáo người dân tộc
Mèo trên biên giới. Biên giới phía Bắc bây giờ đương đêm ngày nóng bỏng. Nhưng
tấm lòng kiên định của cô giáo, cũng như ai nấy, đều như một.
“Lá thư này đến muộn vì bọn Trung Quốc bắn
phá Đồng Văn, chúng em phải chạy vào rừng. Biên giới không lúc nào ngừng tiếng
súng, nên em đã sơ tán hai cháu vào sâu trong rừng, trường cũng vào rừng, em
không dạy trường bổ túc huyện nữa mà chuyển đi dạy trường thiếu nhi rẻo cao của
huyện sơ tán. Được biết bác vẫn mạnh khỏe, bình thường, em thật yên lòng. Còn
em, mặc dầu gần biên giới gặp nhiều khó khăn vì bọn Trung Quốc bắn phá song em
vẫn khắc phục, về công tác em vẫn đảm nhiệm một lớp 42 học sinh.
Ngay bên kia núi, bọn Trung Quốc vẫn quấy
rối hằng ngày, nhất là ở Má Lé, Lũng Táo, Lũng Cú, Sà Phìn, Phó Lúng, Phó Bảng.
Bố mẹ ở Sà Phìn phải chạy luôn, im tiếng súng mới dám về nhà. Thường đêm không
ngủ yên được. Có khi đương nửa đêm hoặc gà gáy, nghe tiếng súng nổ trên núi lại
phải chạy. Ở Lũng Hòa, nhà ông Kẻ, nhà ông Quốc đã bị bọn địch Trung Quốc sang đốt
sạch. Những quả núi đá ở Lũng Hòa, ở Sà Phìn bị đạn pháo chúng nó câu sang vỡ
đá, làm núi trắng toát. Em tưởng em chết với hai con, không thể sống được nữa, phải
chạy vào Sáng Tủng, mang theo bột ngô vào rừng nấu cho con ăn, thật là khổ.
Hôm bọn Trung Quốc đã rút, em trở về Phó
Bảng với các chú bộ đội định tìm mấy thứ đồ đạc hôm bỏ chạy. Nhưng bọn Trung Quốc
đã đốt cả thị trấn. Nhà cửa, trường học tan nát. Đồ đạc của em bị mất hết, cháy
hết. Quần áo, chăn màn, hòm xiểng, truyện, sách vở, tài liệu hai hòm dùng trong
giảng dạy cũng bị đốt sạch. Chỉ còn tìm được cái nồi nấu cơm. Thế là bây giờ
hai bàn tay trắng, ở nhờ nhà dân, mượn các thứ nấu ăn cho ba mẹ con, vá lại quần
áo để mặc, không biết đến mùa đông này thế nào… Cũng là vì thằng giặc Trung Quốc
cả…”.
Đây đương là quang cảnh nhân dân các vùng ở sát nách kẻ
thù, thật khổ cực nhưng vô cùng kiên cường. Khi tất cả đã như nhau đứng lên
theo tiếng gọi của một lý tưởng thiêng liêng, không thể nào bảo đấy là bởi “quy
luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người phải
đạo”, một quy luật chỉ được áp dụng khi xem xét một xã hội còn người bóc lột
người.
Cách nhìn và phân tích xã hội cách mạng như vậy, phía
nào cũng là không chính xác. Nếu bảo đây chỉ là một số người thì đây là đám người
vương vãi không đáng nói đến trong khi cả nước một tinh thần, những kẻ lạc lõng
“phải đạo” ấy không đủ có để nâng lên thành đặc điểm của quần chúng nói chung. Còn
nếu bảo đây là tính cách của bọn người “phải đạo” hiện nay, nhận định ấy xa lạ
với thực tế xã hội cách mạng của ta.
Những người bình thường nhưng cực kỳ dũng cảm của các
dân tộc anh em, những cô Ly Thị Chở, cô Thào Mỵ, cô Vù Thị Vá trên biên giới
phía Bắc đất nước, hàng ngày đương đầu với giặc, mà vẫn công tác, vẫn lo toan
việc nhà, thực sự đã tiêu biểu được tinh thần mọi tầng lớp người trong xã hội
ta trên khắp đất nước. Ở quân đội, ở công trường. Một vùng kinh tế mới. Ở một kế
hoạch và biện pháp về công tác kinh tế của một tập thể tỉnh ủy. Ở nghĩa vụ quốc
tế của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Những sự việc lớn lao của con người
và đất nước thời đại, anh Hoàng Ngọc Hiến đã ý thức được một cách tổng quát,
anh viết: “Đó là ý chí quật cường bất khuất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
đó là nhân phẩm cao đẹp của những con người sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do,
tóm lại, đó là những sức mạnh tinh thần cao quý nhất của người Việt Nam tích tụ
trong bốn nghìn năm lịch sử và được phát huy tới những đỉnh cao rạng rỡ tuyệt vời
trong một cuộc cách mạng vô cùng gian khổ và oanh liệt với những cuộc chiến
tranh thần thánh có ý nghĩa lịch sử thế giới to lớn”.
Nhưng từ những thâu tóm đúng đắn đó, khi phân tích chi
tiết, anh đã gỡ rối ra cả. Liên hệ tình hình văn học cách mạng, anh Hoàng Ngọc
Hiến lạc vào những tiểu tiết không thật. Anh cho là tác phẩm của ta “đơn sơ, vụng
về, thậm chí thô thiển” và “quá một mức độ nào đó, xu hướng này đẻ ra chủ nghĩa
minh họa”.
Không thể một xã hội đương vũ bão tiến lên như xã hội
Việt Nam mà trên công tác tư tưởng quan trọng như mặt trận văn học mà thoạt
trông chỉ thấy vẻ nhợt nhạt trước tiên. Tất nhiên, từng thời kỳ, có không ít những
sáng tác “đơn sơ, vụng về, thậm chí thô thiển”, và “chủ nghĩa minh họa” − (Về chủ
nghĩa minh họa cũng cần phải rạch ròi và phân minh thêm. Tôi cho rằng bản chất của
nó và nhất là trong bước đi lên hiện nay của văn học ta, viết như vẽ lại sự vật
đương tồn tại là cách làm tốt) nhưng nét tiêu biểu và đặc điểm của văn học Việt
Nam trong thời gian qua là những hiện tượng không như những khẳng định trên.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, văn học cách mạng
xuất hiện cùng với đất nước được độc lập. Theo tiếng gọi của Đảng, lực lượng
văn học công khai trong toàn quốc lúc ấy mới chỉ là con số nhỏ bé những nhà văn
tập hợp dưới cờ cách mạng với mọi khuynh hướng khác nhau nhưng giống nhau là
cùng một lòng yêu nước sôi nổi. Bên cạnh, mới có mấy cây bút trẻ hứa hẹn, đếm đầu
ngón tay được, như Trần Đăng, Nguyễn Văn Bổng, Thép Mới, Minh Đạo,… Rồi, trải từng
giai đoạn cách mạng, xuất hiện những lực lượng dần dần thành một đội ngũ đông đảo
vững chắc. Cho đến nay, lực lượng và phong trào văn học mạnh mẽ đã xây dựng được
một nền văn học đáng tự hào mà nghị quyết Đại hội lần thứ tư Đảng Cộng sản Việt
Nam đã khẳng định “Văn học nghệ thuật nước ta xứng đáng vào hàng ngũ tiên phong
của những nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”.
Vừa rồi, trong công tác chuẩn bị Đại hội nhà văn, tôi
có dịp đọc lại một số tác phẩm, càng thấy được cơ sở bề sâu của những nhận định
như trên. Kể tình cờ tác phẩm in ra trong khoảng trước sau năm 1978. Những Sông Đà và Ký được in lại của Nguyễn Tuân, bên những tên tuổi từ trước Cách mạng
tháng Tám 1945 và nay nhiều người vẫn trong đội ngũ sáng tác sung sức như Huy Cận,
Xuân Diệu, Bùi Hiển, Nguyễn Văn Bổng, cùng với lực lượng ra đời trong từng giai
đoạn cách mạng: Anh Đức, Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Nguyễn Minh Châu, thấy được
rất đông những tác giả mới, những tác giả của những thể loại và đề tài phong
phú khác nhau. Thơ của Thanh Thảo, thơ Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Hữu Thỉnh.
Những ký sự của Triệu Bôn, của Vũ Kỳ Lân và Nguyễn Sinh. Những truyện ngắn và
truyện dài của Lê Lựu, Thái Bá Lợi, Lê Minh Khuê, Lưu Kiểng Xuân, Chu Lai. Tiểu
thuyết đề tài thiếu nhi của Võ Quảng. Nhiều tác phẩm in trong năm đó ở các địa
phương. Ấy là mới kể có xung quanh năm 1978.
Chỉ một thời gian cực ngắn như thế cũng đã có được
sáng tác đánh dấu. Thành tựu này, tất nhiên không thể cho là chi tiết. Rõ ràng,
sức lớn mạnh của văn học Việt Nam đương đà.
***
Phân tích cách thức thể hiện sáng tạo
văn học, anh Hoàng Ngọc Hiến nêu ra một loạt “loại hình quan hệ lấn át” và coi
đó như đặc trưng của sự phát triển.
Tôi hiểu khác anh. Với một tác phẩm của
văn học cách mạng – không giống sáng tác của các trào lưu văn học phi vô sản,
quan hệ nội dung và hình thức, trình độ và phương pháp biểu hiện, kể cả cung
cách nhà văn làm việc chuẩn bị cho một tác phẩm, là quan hệ vận động và phát
triển. Trong vận động, những yếu tố chằng chịt chen lấn trái ngược nhau luôn
luôn xuất hiện, – mặc dầu vậy, cái gốc của vấn đề cũng như tính nguyên tắc của
tác phẩm, từ chuẩn bị đến thể hiện, phải được quán triệt.
Anh Hoàng Ngọc Hiến nhận xét, “trong
sáng tác hiện nay, sự miêu tả cái phải tồn
tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại”. Nói một cách dễ hiểu: sáng tác của ta
bây giờ thiên về viết những sự việc sẽ xảy ra, những sự việc sẽ phải như thế chứ
ít có hoặc không có tác phẩm viết những cái đương xảy ra. Theo ý ấy, lại diễn
giải thêm: nhà văn bây giờ nặng về vẽ ra con đường sẽ tới; họ không vào hoặc
không dám biểu hiện những thực tế sinh động hàng ngày, “thế giới hiện tượng
ngoài cuộc đời quá ư phức tạp, rối ren. Nhiều khi đứng trước những hiện tượng
không lý giải nổi…”. Không lý giải nổi thì tô vẽ lên những cái sẽ có và thế là
“cái phải tồn tại lấn át cái đang tồn tại”.
Trong mớ những lý luận rối bời ấy, tựu
trung vẫn lồ lộ cái nhược điểm đơn thuần suy luận không trên cơ sở những liên
quan và vận động của quá trình sự vật được thể hiện. Vấn đề được đặt ra không
thể tách bạch một cách gọn lỏn thế.
Lý luận và thực tiễn vận động của quá
trình sáng tác cho tới được kết quả của sáng tác của ta đã phát triển trên con
đường hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tôi hiểu phương pháp sáng tác tiên tiến đó là
miêu tả sự thực của xã hội, vạch đường cho xã hội tiến lên, miêu tả con người
trong cuộc sống, cho con người thấy được cuộc sống có ích… Tạo nên tư tưởng chủ
đề phải do câu chuyện mà cột trụ những câu chuyện là con người, là nhân vật, –
nhân vật con người mới được sinh ra và phát triển từ cuộc đấu tranh thực hàng
ngày. Như vậy, bản thân nội dung của một tác phẩm không thể chia ra cái sẽ có
và cái đương có bao gồm cả cái đã đến và cái đương đến. Một tác phẩm hiện thực
được sinh ra từ thực tế xã hội. Tư tưởng người viết, thông qua triết lý của tác
phẩm đưa con người và câu chuyện với lý tưởng cuộc sống nhân vật tới một tương
lai trên bệ phóng của những thực tế đương xảy ra. Hai mặt ấy không nằm trong
quan hệ lấn át, mà là quan hệ đồng nhất đẩy tới sự phát triển. Quan hệ thống nhất
ấy là đường ngang cấm chỉ phân biệt văn học cách mạng với văn học tư sản. Với
văn học tư sản, hai mặt đó quả là chỉ có lấn át, chẳng cứ trong hình thức và nội
dung, mà cả nhân vật và cốt truyện, cả con người cầm bút với tác phẩm. Nền văn
học hiện thực xã hội chủ nghĩa hoàn toàn ngược lại. Lý tưởng người viết và tác
phẩm của chúng ta sáng tạo từ thực tế mọi mặt của đời sống – dầu cho đấy là một
đồng thoại trong thể loại truyện cho thiếu nhi cũng được cấu tạo từ tư tưởng
con người, và người cầm bút bao giờ cũng phải ngang bằng với tư tưởng những điều
anh viết ra.
Các mặt quan hệ lấn át mà anh Hoàng Ngọc
Hiến phát hiện thật ra chỉ là quan hệ so le, cao thấp của khả năng thật có và
trình độ biểu hiện của người viết trước thực tế xã hội, – chỉ thế thôi.
Đấy là vấn đề của những cây bút non nớt,
lẩn tránh hoặc hãi sợ, đem cái “phải có” che lên cái “đương có”. Những tác phẩm
yếu kém ấy không thể kể là số lấn át trong những tác phẩm hay của ta và càng
không phải bộ mặt nền văn học ta.
Anh Hoàng Ngọc Hiến không dừng lại ở
những nhận thức chung. Anh còn giả thiết anh cũng như người viết truyện ngắn,
truyện dài để trình bày và bảo vệ những lâp luận trên của anh. Anh đi vào bếp
núc công việc chuẩn bị một sáng tác. Anh đặt câu hỏi tại sao tác phẩm của ta
thường “nhân vật mờ nhạt”. Anh cho là vì người viết đã phạm thiếu sót ngay từ
lúc sống trong thực tế chuẩn bị sáng tác. “Mỗi cá nhân, như chúng ta biết, bao
giờ cũng gắn với nhiều tập hợp, những tập hợp quen thuộc trong số này thường vẫn
được nêu lên trong lý lịch văn học dưới các mục: thành phần giai cấp, dân tộc,
tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp, Đoàn, Đảng, … Nhân vật được nghiên cứu và xây
dựng từ cấp độ cố định những tập hợp nói trên cách này cách nọ được gắn cho những
thuộc tính bản chất của những tập hợp đó…”
Khuyết điểm anh Hoàng Ngọc Hiến nói
trên chỉ có ở người nào giản đơn máy móc. Cái bước nắm nhân vật kiểu anh kể chỉ
mới là động tác vào sổ cái công văn đầu tiên của một đồng chí thường trực phòng
tổ chức cơ quan. Người viết đi vào đời sống tìm hiểu và xây dựng nhân vật không
thể làm ăn nhẹ nhàng như thế.
Xây dựng nhân vật, từ bước đi vào thực
tế, thực tế ta tìm hiểu hay thực tế ta từng trải, không thể lơ là việc quản lý
lý lịch nhân vật mà anh Hoàng Ngọc Hiến không chú ý việc làm này và theo anh, “số
cộng những thuộc tính đó không tạo ra được cá nhân con người, không thuyết minh
được cá tính riêng, bản lĩnh độc đáo và bộ mặt đặc sắc của nó”.
Khi tôi dựng nhân vật A Phủ trong truyện
ngắn Vợ chồng A Phủ tôi phải biết A
Phủ là một người nghèo khổ, một cố nông, cũng tất nhiên, tôi phải quy tên chúa
đất Pá Tra vào thành phần tầng lớp trên. Khi tôi viết tập Tự truyện, nhân vật “tôi tiểu tư sản trí thức” tôi phải đem ra xem
xét theo phương pháp tìm hiểu con người của quan điểm khoa học. Muốn rõ bản chất
nhân vật, không thể đi tắt hay xóa bỏ được việc này. Chẳng những thế, đấy lại
là quan trọng hàng đầu. Không làm thế, bước đầu không biết đâu mà nắm được hình
thù nhân vật. Cũng trong trường hợp này, anh Hoàng Ngọc Hiến có ý băn khoăn về
cách nghĩ “căn bản là tốt, ưu điểm là căn bản, bản chất là tốt đẹp…”. Tôi tưởng một khi vấn đề đã cơ bản nắm vững
thì nói “căn bản là tốt” hay nói căn bản là sai, điều đó nếu có chứng thực là
đúng đắn và khoa học, không thể bỏ qua hoặc đem diễu cợt được.
Công phu người viết vẫn chưa dừng lại
đấy. Việc làm tiếp theo còn khó nhọc hơn nhiều. Đó là công phu tích lũy những
hiểu biết trong khi đi sâu vào quá trình vận động của nhân vật đã được sơ bộ
phác thử bản chất. Kiên trì, kỹ lưỡng, phát hiện, so sánh, mọi suy nghĩ, hành động,
lịch sử, quan hệ và ảnh hưởng qua lại của con người giữa xã hội, kiểm tra lại
những kết luận cũ, khám phá ra những kết luận mới, khác trước. Chỉ có con người
ở thể động mới bộc lộ được tính cách và chỉ khi nào hiểu biết được con người
trong vận động, người viết mới có khả năng tiến tới những kết luận về nhân vật
dần dần chính xác.
Tôi hiểu ý anh Hoàng Ngọc Hiến, cuối
cùng không phải anh phủ nhận mặt gốc ấy, nhưng anh đã không rành rõ ngay ở những
lập luận từ đầu, chưa chi đã nhấn mạnh rồi đưa đặc điểm lên trên cái phổ biến, –
trong khi cái đặc điểm ở đây chỉ là “những
mẩu nhỏ trong cuộc đời”.
Đi sâu hơn nữa, chúng ta còn rất lý
thú thấy không phải chỉ có nghiên cứu thực tế xã hội và con người để xây dựng
nhân vật mới dùng đến quan điểm phân tích và đấu tranh giai cấp trong quá trình
vận động. Mà phương pháp này cần phải vận động đến cả từ lúc ta đặt bút cấu tạo
câu văn. Một ví dụ nhỏ: tôi đang xây dựng những ý nghĩ, những lời nói của một
nhân vật cán bộ năm nay trạc bốn mươi tuổi. Mở vài trang lý lịch, tôi thấy được
anh mồ côi mẹ từ sớm, bố anh ấy là một nông dân đi bộ đội chín năm thời kháng
chiến chống Pháp rồi ông trở về làng làm chủ nhiệm hợp tác xã. Anh ấy học xong
cấp phổ thông trường làng, được đi Liên Xô học đại học rồi làm nghiên cứu sinh,
mười năm ăn học nước ngoài đến tốt nghiệp phó tiến sĩ hóa công nghiệp thực phẩm.
Trở về nước năm 1976, công tác tại thành phố Hồ Chí Minh và anh lấy vợ người
thành phố ấy. Mọi quan hệ gia đình và ảnh hưởng qua lại của xã hội được đem bắc
cân so sánh từng đoạn, từng việc trong đời anh. Cả các phía hiểu biết hết sức
khác nhau về đời con người ấy giúp ta quyết định cấu tạo nên được ý nghĩ và từng
lời, từng câu nói với tính cách độc đáo đích thực của nhân vật.
Anh Hoàng Ngọc Hiến sốt ruột vì thường
thấy “nhân vật đã bị sự kiện lấn át”, “không tạo ra được cá nhân con người,
không thuyết minh được cá tính riêng, bản lĩnh độc đáo và bộ mặt đặc sắc của
nó”, nhưng khi cho đơn thuốc, anh lại bỏ qua những đầu vị trọng, lại đem chi tiết
thay cái chung.
Loại hình lấn át bản chất và hiện tượng
đem soi vào một tác phẩm sáng tác theo phương pháp hiện thực, bất cứ phạm trù
nào theo cách sắp đặt của anh Hoàng Ngọc Hiến đều không thỏa đáng. Không phải một
cặp, mà nó là một cái và đã bị anh đem tách ra thành thể đối lập, do đấy, đã đi
tới những lập luận cứng quếu.
Ngày từ đầu, sự lầm lẫn cành với gốc
đã làm anh không thấy ra những thành đạt thực sự của văn học ta và cả cốt lõi
tư tưởng thực của xã hội ta. Anh công kích công thức sơ lược rồi anh lại nệ và
sa vào đấy, theo cách gọi ồn ào của anh nhưng cũng chẳng khác mấy kiểu công thức
sơ lược ở những sáng tác và phê bình võ đoán ta thường gặp.
Sự lầm lẫn đã làm anh Hoàng Ngọc Hiến
bối rối mâu thuẫn trong nhiều vấn đề. Có lúc anh chẳng nhận ra những thành tựu
của văn nghệ ta trong thời gian qua. Có lúc anh lại mừng rỡ trước phong trào
văn nghệ ta đương ở “giai đoạn trưởng thành”. Có lúc anh bảo mọi quan hệ lấn át
đương tiêu diệt nhau. Có lúc anh lại nhận thấy “cái chung lấn át cái đặc biệt
có nghĩa là thuộc loại mâu thuẫn hình thức không đối kháng…”. Anh vẽ ra những
công thức đứng yên mà không lưu tâm đến sự vận động vào thực tế và những biến
hóa của nó, để cắt nghĩa theo kịp những đổi thay của những công thức ấy, những
phạm trù ấy, do vậy, mỗi lúc anh lại rút ra một đáp số lặt vặt khác nhau, đôi
khi trái ngược nhau.
Những biện luận hào hứng của anh Hoàng
Ngọc Hiến đã mơ hồ ngay từ lúc anh viết đầu bài “Về một đặc điểm của văn học và
nghệ thuật ở ta…”. Đặc điểm đây là anh muốn nói đến những yếu kém – tôi chỉ xin
chứng minh về văn học mà tôi có hiểu biết. Những yếu kém ấy, trong văn học ta
không phải không có. Nó thật đã có và có đúng như thế. Nhưng có điều những yếu
kém ấy không phải là đặc điểm của bất cứ mặt nào trong các giai đoạn vừa qua của
một nền văn học đã có những thành đạt. Những yếu kém ấy chỉ bộc lộ ra ở những
sáng tác non nớt, đặc điểm mà anh khái quát lên chỉ là điểm yếu của những cây
bút kém cỏi. Như vậy, ta chỉ cần trao đổi với một vài ai đó, mấy người viết
không trung thực với thực tế đời sống, chuộng lạ, hay rình chộp cái ly kỳ thời
thượng, gặp trường hợp và điển hình phức tạp cần phải dũng cảm phanh phui, giải
quyết, cấu tạo, thì tác giả ấy lại đem ra một mẫu người “phải đạo” rồi trải khăn
bàn, bày bình hoa lên, đứng ra nói về cái sẽ xảy ra, cái “phải tồn tại”.
Mấy ngòi bút lạc lõng nào đó không phải
bộ mặt lực lượng văn học của chúng ta. Về vấn đề này, Lê-nin đã có lần mạnh mẽ
phê bình Vin-nit-sen-kô, chỉ đem chắp nhặt “những mẩu nhỏ trong cuộc đời” rồi bảo
là cuộc đời thực: “Tất nhiên, tách riêng ra thì những sự “khủng khiếp” mà
Vin-nit-sen-kô miêu tả là có trong cuộc sống. Nhưng đem chắp nhặt tất cả chúng
lại với nhau và bằng cách như thế thì
có nghĩa là tô đậm những sự khủng khiếp,
dọa nạt trí tưởng tượng của mình và của bạn đọc, “hành hạ” mình và bạn đọc”. (1)
***
Tôi thường nghĩ: làm thơ, viết tiểu
thuyết, viết phê bình – công việc sáng tạo ấy của mỗi thể loại đều theo cách
riêng, nhưng tất cả đã cùng một công phu rèn luyện không khác nhau.
Anh Hoàng Trung Thông là nhà thơ và
nhà phê bình. Tôi đã có những phen đi với anh trên biên giới phía Bắc. Còn nhớ
những đêm trên sàn gác trụ sở xã Má Lé cheo leo mỏm đất địa đầu tổ quốc, chúng
tôi vừa đi suốt ngày bây giờ về đốt sưởi và nướng quả óc chó ăn với đồng chí Lý
Sèng Pháo chủ tịch xã. Chủ tịch huyện, đồng chí Vù Mí Kẻ hì hục đào sâm đất cho
chúng tôi ở Vằn Chải, đến đêm lại cùng nhau uống rượu nghe chủ tịch xã Vù A Hòa
thổi khèn. Bạn đọc đã được thưởng thức những bài thơ hay của Hoàng Trung Thông
trên dặm đường này.
Có chuyến chúng tôi đã ở ròng rã hàng
năm dưới Thái Bình, thời kỳ phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp mới bắt
đầu. Ở Thái Ninh, chúng tôi cùng ăn làm và công tác như mọi người trong làng thời
kỳ ấy. Anh còn tham gia công tác chỉ đạo với chi ủy xã. Tôi tin những thực tế
đó, những xương thịt của sáng tạo ấy, có ích cho nhà thơ Hoàng Trung Thông, cho
tôi người viết văn xuôi, và cũng hết sức quý giá đối với nhà phê bình Hoàng
Trung Thông – chúng ta, những người sáng tác.
Công tác nghiệp vụ của chúng ta rất khắc
nghiệt, không châm chước đối với một ai. Không thể nói đi vào thực tế, người viết
tiểu thuyết cần đời sống xã hội hơn người phê bình, hoặc người phê bình phải đọc
nhiều hơn đi. Hiểu và làm như thế thật phiến diện.
Những người sáng tác chúng ta miệt mài
lăn lộn vào thực tế xã hội với kỷ luật nghiêm túc như khi ta còn học trường phổ
thông. Ước ao mỗi năm được lên lớp một lần, nhưng chẳng may, người viết văn
chúng mình đi vào trường đời, dù chịu khó đến đâu cũng chẳng bao giờ lên được lớp
trên.
Vừa bối rối vừa rạch ròi, vừa có sức nặng
lại vừa hời hợt, những phát hiện sắc sảo lẫn lộn bên những xô bồ, sau cùng đâm
ra mất phương hướng, – đó là cảm tưởng
tôi khi đọc bài anh Hoàng Ngọc Hiến. Anh cũng đi tới nhận thức văn học của ta
mà sự biểu hiện cao cả, theo anh nghĩ, là nội dung nền văn học hiện thực chân
chính có tính dân tộc và tính hiện đại. Nhưng trước đấy, anh lại đã phát hiện
ra cái đương có này chỉ là cái “văn học hiện thực phải đạo” tầm thường. Chữ “phải
đạo” chỉ có nghĩa là phủ nhận tất cả. Nếu anh sành hai chữ này theo nghĩa lời
ăn tiếng nói thông thường của mọi người, chắc anh không dùng. Đó là vâng lời,
là cam chịu, là ngôi thứ, là phải đạo làm con, phải đạo làm người, là ăn ở cho
phải đạo. Những chữ ấy để gọi tính nết cho loại văn học tiêu cực, cho phương pháp
sáng tác thụ động không có tính tiên phong, chứ không thể là đặc điểm văn học
cách mạng Việt Nam, bất cứ thời kỳ nào.
Những sai sót, những nhầm lẫn ấy đã xảy
ra có thể bởi cái vế công phu vào đời sống còn quá mờ nhạt ở một cây bút nhạy cảm
như Hoàng Ngọc Hiến.
Chú thích
(1) Thư gửi I-ne-xơ Ác-măng (Lê-nin: Bàn về văn hóa, văn học, Nxb. Văn học, 1977)
Nguồn:
Văn Nghệ, Hà nội, s. . 42 (20.11.1979), tr. 6-7.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét